ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT

HOA NGHIÊM KINH

 

Phẩm Nhập Pháp Giới

Thứ ba mươi chín

 

Hán Dịch: Ðại Sư Thật-Xoa-Nan-Ðà

Việt Dịch: Hòa thượng THÍCH TRÍ TỊNH



35.- DẠ THẦN TỊCH TỊNH ÂM HẢI

 

Nầy thiện-nam-tử ! Ta chỉ biết

MÔN GIẢI THOÁT NIỆM NIỆM SANH QUẢNG ĐẠI TRÍ TRANG NGHIÊM” nầy.

 


Bấy giờ Thiện-Tài Đồng-Tử ở chỗ Dạ-Thần Phổ-Cứu-Chúng-Sanh-Diệu-Đức, nghe pháp-môn giải-thoát bồ-tát phổ-hiện-nhất-thiết-thế-gian-điều-phục-chúng-sanh. Thiện-Tài biết rõ tin hiểu tự-tại an-trụ trong môn giải-thoát đó.

Thiện-Tài đến chỗ DẠ THẦN TỊCH TỊNH ÂM HẢI, đảnh lễ nơi chân Dạ-Thần hữu nhiễu vô-số vòng, chắp tay cung kính thưa rằng:

Bạch đức Thánh ! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề. Tôi muốn nương theo thiện-tri-thức để học bồ-tát-hạnh, nhập bồ-tát-hạnh, tu bồ-tát-hạnh, trụ bồ-tát-hạnh. Mong đức Thánh thương xót vì tôi mà tuyên nói Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo ?

Dạ-Thần nói:

Lành thay, lành thay ! Nầy thiện-nam-tử ! Ngươi có thể nương thiện-tri-thức cầu bồ-tát-hạnh.

Nầy thiện-nam-tử ! Ta được môn giải-thoát bồ-tát niệm-niệm-xuất-sanh-quảng-đại-hỉ-trang-nghiêm.

Thiện-Tài Thưa:

Đại-Thánh ! Môn giải-thoát nầy sự nghiệp thế nào ? Cảnh-giới thế nào ? Khởi phương-tiện gì ? Quán-sát thế nào ?

Dạ-Thần nói:

Nầy thiện-nam-Tử ! ta phát khởi tâm nguyện bình-đẳng thanh-tịnh. Ta phát khởi tâm nguyện ly tất cả trần cấu thế-gian thanh-tịnh kiên-cố trang-nghiêm chẳng hư hại. Ta phát khởi tâm trọn chẳng thối chuyển phan-duyên địa-vị bất-thối-chuyển. Ta phát khởi tâm bất động trang-nghiêm công-đức bửu sơn. Ta phát khởi tâm vô-trụ-xứ. Ta phát khởi tâm cứu-hộ hiện thân trước khắp tất cả chúng-sanh. Ta phát khởi tâm không nhàm đủ thấy tất cả phật-hải. Ta phát khởi tâm nguyện-lực thanh-tịnh cầu tất cả Bồ-Tát. Ta phát khởi tâm trụ nơi đại-trí quang-minh hải. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh vượt khỏi đồng hoang lo buồn. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời sầu lo khổ não. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời sắc thanh hương vị xúc pháp chẳng vừa ý. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời ái-biệt-ly-khổ và oán-tắng-hội-khổ. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời những khổ ác duyên ngu si. Ta phát khởi tâm làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng-sanh bị hiểm nạn. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh thoát khỏi chỗ khổ sanh tử. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh bỏ rời những khổ sinh, lão, bệnh, tử. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh thành-tựu pháp-lạc vô-thượng của Như-Lai. Ta phát khởi tâm làm cho tất cả chúng-sanh đều thọ hỉ lạc.

Ta phát khởi những tâm như vậy rồi, lại vì chúng-sanh mà thuyết pháp, làm cho họ lần đến bực nhất-thiết-trí.

Như là, nếu thấy chúng-sanh mến luyến nhà cửa cung-điện của họ ở, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thấu rõ tự tánh của các pháp lìa chấp trước.

Nếu thấy chúng-sanh mến luyến cha mẹ anh em chị em, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được dự chúng-hội thanh-tịnh chư Phật Bồ-tát.

Nếu thấy chúng-sanh mến luyến vợ con, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ bỏ rời sanh tử ái nhiễm khởi tâm đại-bi, với tất cả chúng-sanh bình-đẳng vô-nhị.

Nếu thấy chúng-sanh ở vương-cung thể-nữ hầu hạ, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được hội họp với thánh-chúng vào giáo-pháp của Như-Lai.

Nếu thấy chúng-sanh nhiễm trước cảnh-giới, thời ta vì họ mà thuyết pháp, làm cho họ được nhập Như-Lai cảnh-giới.

Nếu thấy chúng-sanh nhiều sân hận, thời ta vì họ mà thuyết pháp, làm cho họ được Như-Lai nhẫn-nhục ba-la-mật.

Nếu thấy chúng-sanh có lòng giải-đãi, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được thanh-tịnh tinh-tấn ba-la-mật.

Nếu thấy chúng-sanh tâm tán loạn, thời ta vì họ mà thuyết-pháp, làm cho họ được Như-Lai thiền ba-la-mật.

Nếu thấy chúng-sanh vào rừng rậm kiến chấp vô-minh ám chướng, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thoát khỏi si ám.

Nếu thấy chúng-sanh không trí-huệ, thời ta vì họ thuyết pháp, cho họ được bát-nhã ba-la-mật.

Nếu thấy chúng-sanh nhiễm trước tam-giới, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ thoát khỏi sanh tử.

Nếu thấy chúng-sanh chí ý hạ-liệt, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ viên-mãn Phật bồ-đề nguyện.

Nếu thấy chúng-sanh an-trụ hạnh tự-lợi, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ phát khởi tâm nguyện lợi ích tất cả chúng-sanh.

Nếu thấy chúng-sanh chí lực kém yếu, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ được bồ-tát lực-ba-la-mật.

Nếu thấy chúng-sanh tâm ngu si mê tối, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ được bồ-tát trí-ba-la-mật.

Nếu thấy chúng-sanh sắc tướng không đủ, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ được Như-Lai thanh-tịnh sắc-thân.

Nếu thấy chúng-sanh hình dung xấu-xí, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được pháp-thân thanh-tịnh vô-thượng.

Nếu thấy chúng-sanh sắc-tướng thô ác, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Như-Lai vi-diệu sắc thân.

Nếu thấy chúng-sanh lòng nhiều ưu não, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được Như-Lai rốt ráo an lạc.

Nếu thấy chúng-sanh khổ vì nghèo cùng, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được bửu-tạng công-đức của Bồ-Tát.

Nếu thấy chúng-sanh ở nơi núi rừng, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ siêng cầu nhơn-duyên phật-pháp.

Nếu thấy chúng-sanh đi nơi đường sá, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ xu-hướng đạo nhất-thiết-trí.

Nếu thấy chúng-sanh ở trong tụ-lạc thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ thoát khỏi tam giới.

Nếu thấy chúng-sanh ở nhơn-gian, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ siêu-việt nhị-thừa-đạo, an-trụ nơi như-lai-địa.

Nếu thấy chúng-sanh cư ngụ thành quách, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được ở trong thành Pháp-Vương.

Nếu thấy chúng-sanh ở nơi bốn hướng, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được trí-huệ tam-thế bình đẳng.

Nếu thấy chúng-sanh ở các phương, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ có trí huệ thấy được tất cả pháp.

Nếu thấy chúng-sanh nhiều tham, thời ta vì họ mà nói môn đại-từ-quán, cho họ được nhập siêng năng tu tập.

Nếu thấy chúng-sanh nhiều si, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được trí sáng quán-sát các pháp-hải.

Nếu thấy chúng-sanh thích vui sanh tử, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ nhàm lìa.

Nếu thấy chúng-sanh nhàm khổ sanh tử đáng được Như-Lai hóa độ, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ có thể phương-tiện thị hiện thọ sanh.

Nếu thấy chúng-sanh mến luyến ngũ-uẩn, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ được an-trụ cảnh giới vô-y.

Nếu thấy chúng-sanh tâm họ hạ liệt, thời ta vì họ mà thị hiện đạo thắng trang nghiêm.

Nếu thấy chúng-sanh tâm sanh kiêu-mạn, thời ta vì họ mà nói pháp nhẫn bình-đẳng.

Nếu thấy chúng-sanh tâm siểm-khúc, thời ta vì họ mà nói Bồ-tát trực-tâm.

Nầy Thiện-nam-tử ! Ta dùng vô-lượng pháp-thí như vậy để nhiếp độ tất cả chúng-sanh, nhiều phương-tiện giáo-hóa điều-phục, cho họ khỏi ác đạo, hưởng vui nhân thiên, thoát sự trói buộc của tam giới, an-trụ nhất-thiết-trí.

Lúc đó ta bèn được đại-hoan-hỉ pháp-quang-minh-hải. Tâm ta vui vẻ an ổn thư thới.

Lại nầy Thiện-nam-tử ! Ta thường quán-sát đạo tràng chúng-hội tất cả Bồ-Tát, tu những hạnh nguyện, hiện những tịnh-thân có những thường-quang, phóng những quang-minh, dùng những phương-tiện nhập môn nhất-thiết-trí, nhập những tam-muội, hiện những thần-biến, phát ra những âm-thanh-hải, đủ những thân trang-nghiêm, nhập những như-lai-môn, đến những quốc-độ-hải, thấy chư Phật-hải, được những biện-tài-hải, chiếu những cảnh giải-thoát, được những trí quang-hải, nhập những tam-muội-hải, du hí những môn giải-thoát, dùng những pháp-môn xu hướng nhất-thiết-trí, trang-nghiêm hư-không pháp-giới, dùng những mây trang-nghiêm che khắp hư-không, quán-sát những đạo tràng chúng-hội, họp những thế-giới, nhập những phật-sát, đến những phương-hải, thọ những như-lai mạng, theo những chỗ Như-Lai, cùng chư Bồ-Tát câu-hội, tuôn những mây trang-nghiêm, vào những phương-tiện Như-Lai, quán những pháp-hải Như-Lai, vào những trí-huệ-hải, ngồi những tòa trang-nghiêm.

Nầy Thiện-nam-tử ! Ta quán-sát chúng-hội đạo-tràng nầy, biết Phật thần-lực vô-lượng vô-biên sanh lòng rất hoan-hỉ.

Nầy thiện-nam-tử ! Ta quán Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai, niệm niệm xuất hiện bất-tư-nghì sắc-thân thanh-tịnh. Thấy như vậy rồi lòng ta rất vui mừng.

Lại thấy đức Như-Lai trong mỗi niệm phóng đại-quang-minh sung-mãn pháp-giới. Thấy như vậy rồi, lòng ta rất vui mừng.

Lại thấy đức Như-Lai, mỗi lỗ lông, niệm niệm xuất hiện vô-lượng phật-sát vi-trần-số quang-minh-hải. Mỗi quang-minh có vô-lượng phật-sát vi-trần-số quang-minh làm quyến thuộc, mỗi mỗi châu biến tất cả pháp giới, tiêu-diệt tất cả chúng-sanh khổ. Thấy như vậy rồi, lòng ta rất vui mừng.

Lại quán Như-Lai, đảnh đầu và chặng mày, niệm niệm xuất hiện phật-sát vi-trần-số mây bửu-diệm-sơn sung mãn tất cả pháp-giới mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như-Lai, mỗi mỗi lỗ lông, niệm niệm xuất sanh phật-sát vi-trần số mây hương-quang-minh, sung mãn tất cả cõi Phật mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như-Lai mỗi mỗi tướng, niệm niệm phát ra phật-sát vi-trần-số mây như-lai-thân đủ tướng trang-nghiêm, đến khắp tất cả thế-giới mười phương. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như-Lai mỗi mỗi lỗ lông trong niệm niệm xuất sanh phật-sát vi-trần-số mây phật-biến-hóa, thị-hiện đức Như-Lai từ sơ-phát-tâm, tu ba-la-mật, đủ đạo trang-nghiêm nhập bồ-tát-địa. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Lại quán Như-Lai mỗi mỗi lỗ lông niệm niệm xuất hiện bất-khả-thuyết-bất-khả-thuyết phật-sát vi-trần-số mây Thiên-Vương thân và tự-tại thần-biến đầy khắp tất cả thế-giới mười phương, người đáng do thân Thiên-Vương mà đắc độ thời hiện ra trước họ thuyết-pháp cho họ. Thấy như vậy rồi, ta rất vui mừng.

Những thân-vân: Long-Vương, Dạ-Xoa-Vương, Càn-Thát-Bà Vương, A-Tu-La Vương, Ca-Lâu-La Vương, Khẩn-Na-La Vương, Ma-hầu-La-Già Vương, Nhơn-Vương, Phạm-Vương, đều trong mỗi lỗ lông của Như-Lai niệm niệm xuất hiện, thuyết pháp như thân-vân Thiên-Vương. Thấy như vậy rồi, ta rất hoan-hỉ, rất tin mến, lượng bằng pháp-giới nhất-thiết-trí, chỗ xưa chưa được mà nay mới được, chỗ xưa chưa chứng mà nay mới chứng, chỗ xưa chưa nhập mà nay mới nhập, chỗ xưa chưa mãn mà nay mới mãn, chỗ xưa chưa thấy mà nay mới thấy, chỗ xưa chưa nghe mà nay mới nghe.

Tại sao vậy ?

Bởi có thể biết rõ tướng pháp-giới. Vì biết tất cả pháp chỉ một tướng. Vì có thể bình-đẳng nhập đạo tam-thế. Vì có thể nói tất cả vô-biên pháp.

Nầy thiện-nam-tử ! Ta nhập bồ-tát niệm niệm xuất sanh quảng-đại-hỉ trang-nghiêm giải-thoát quang-minh-hải nầy.

Giải-thoát nầy vô-biên, vì vào khắp tất cả pháp-giới môn.

Giải-thoát nầy vô-tận, vì khắp pháp tâm nhất-thiết-trí-tánh.

Giải-thoát nầy vô-tế, vì vào trong tâm tất cả chúng-sanh không giới hạn.

Giải-thoát nầy thậm-thâm, vì là cảnh sở-tri của trí huệ tịch-tịnh.

Giải-thoát nầy quảng đại, vì châu biến tất cả Như-Lai cảnh.

Giải-thoát nầy vô-hoại, vì là cảnh sở-tri của Bồ-Tát trí-nhãn.

Giải-thoát nầy không đáy, vì tận nguồn đáy nơi pháp-giới.

Giải-thoát nầy chính là phổ-môn, vì trong một sự thấy khắp tất cả thần-biến.

Giải-thoát nầy trọn chẳng thể lấy, vì tất cả pháp-thân bình-đẳng không hai.

Giải-thoát nầy trọn không có sanh, vì rõ biết được pháp như huyễn.

Giải-thoát nầy như ảnh tượng, vì nhất-thiết-trí nguyện-quang sanh ra.

Giải-thoát nầy dường như biến hóa, vì hóa sanh những thắng-hạnh bồ-tát.

Giải-thoát nầy dường như đại-địa vì là chỗ sở-y của tất cả chúng sanh.

Giải-thoát nầy dường như đại-thủy, vì có thể dùng đại-bi nhuận tất cả.

Giải-thoát nầy dường như đại-hỏa, vì khô cạn nước tham ái của tất cả chúng-sanh.

Giải-thoát nầy dường như đại-phong, vì làm cho chúng-sanh mau đến nhất-thiết-trí.

Giải-thoát nầy dường như đại-hải, vì những công-đức trang- nghiêm tất cả chúng-sanh.

Giải-thoát nầy như núi Tu-Di, vì xuất hiện biển pháp nhất-thiết-trí.

Giải-thoát nầy như thành quách lớn, vì tất cả pháp được trang-nghiêm.

Giải-thoát nầy như hư không, vì dung khắp thần-lực của tất cả Phật tam thế.

Giải-thoát nầy như mây lớn, vì mưa pháp-vũ cho khắp chúng-sanh.

Giải-thoát nầy như mặt nhật, vì phá được tối ngu-si của chúng-sanh.

Giải-thoát nầy như mặt trăng tròn, vì mãn túc biển phước-đức quảng đại.

Giải-thoát nầy dường chơn-như, vì đều có thể cùng khắp tất cả chỗ.

Giải-thoát nầy như bóng của mình, vì do thiện-nghiệp của mình hóa xuất ra.

Giải-thoát nầy như tiếng vang, vì tùy nghi mà thuyết pháp.

Giải-thoát nầy như ãnh tượng, vì tùy tâm chúng-sanh mà chiếu hiện.

Giải-thoát nầy như đại-thọ-vương vì nở xòe tất cả hoa thần-thông.

Giải-thoát nầy như kim-cang, vì bổn lai bất-khả-hoại.

Giải-thoát nầy như châu ma-ni, vì xuất sanh vô-lượng sức tự-tại.

Giải-thoát nầy như ly-cấu-tạng ma-ni-vương, vì thị-hiện tất cả tam-thế Như-Lai thần-lực.

Giải-thoát nầy như hỉ-tràng ma-ni-bửu, vì có thể bình-đẳng phát ra tiếng phát-luân của tất cả chư phật.

Nầy thiện-nam-tử ! Nay ta vì ngươi mà nói những ví-dụ nầy. Ngươi nên tư-duy tùy thuận ngộ nhập.

Thiện-Tài thưa:

Bạch Đại-Thánh ! Tu hành thế nào để được môn giải thoát nầy.

Dạ-Thần nói:

Nầy thiện-nam-tử ! Bồ-Tát tu hành mười đại-pháp-tạng được giải thoát nầy:

Một là tu bố-thí quảng-đại-pháp-tạng, tùy tâm chúng-sanh đều khiến đầy đủ.

Hai là tu tịnh-giới quảng-đại pháp-tạng vào khắp tất cả biển phật công-đức.

Ba là tu kham-nhẫn quảng đại pháp-tạng, có thể khắp tư-duy tất cả pháp-tánh.

Bốn là tu tinh-tấn quảng-đại pháp-tạng, vì xu hướng nhất-thiết-trí hằng chẳng thối-chuyển.

Năm là tu thiền-định quảng-đại pháp-tạng, vì có thể diệt trừ tất cả chúng-sanh nhiệt-não.

Sáu là tu bát-nhã quảng-đại pháp-tạng, vì có thể biết rõ khắp tất cả pháp-hải.

Bảy là tu phương-tiện quảng-đại pháp-tạng, có thể thành-thục khắp những chúng-sanh-hải.

Tám là tu những nguyện quảng-đại pháp-tạng, vì tận vị-lai kiếp tu bồ-tát-hạnh khắp tất cả cõi phật, tất cả chúng-sanh.

Chín là tu những lực quảng đại pháp-tạng, vì niệm niệm hiện thành Đẳng-Chánh-Giác nơi tất cả pháp-giới, nơi tất cả quốc-độ thường chẳng thôi dứt.

Mười là tu tịnh-trí quảng-đại pháp-tạng, được như-lai-tri biết khắp tất cả pháp tam-thế không có chướng ngại.

Nếu chư Bồ-Tát an-trụ mười pháp-tạng nầy thời có thể chứng được giải-thoát như vậy.

Thiện-Tài thưa :

Đại-Thánh phát tâm vô-thượng bồ-đề đã bao lâu ?

Dạ-Thần nói :

Nầy thiện-nam-tử ! Phía đông của Hoa-Tạng-Trang-Nghiêm-Thế-Giới-Hải nầy, qua khỏi mười thế-giới-hải, có thế-giới-hải tên là Nhất-Thiết-Tịnh-Quang-Bửu. Trong thế-giới-hải nầy có thế-giới-chủng tên là Nhất-Thiết-Như-Lai-Nguyện-Quang-Minh-Ấm, trong đó có thế-giới tên là Thanh-tịnh-Quang-Kim-Trang-Nghiêm, thể chất bằng hương-kim-cang ma-ni-vương, hình như lâu các. Diệu-bửu-vân làm biên-tế, ở trong biển nhất-thiết-bửu-anh-lạc. Mây diệu-cung-điện che trên. Tịnh-uế lẫn lộn.

Trong thế-giới đó, thuở xưa có kiếp tên là Phổ-Quang-Tràng. Nước tên là Phổ Mãn-Diệu-Tạng. Đạo-tràng tên là Nhứt-Thiết-Bửu-Tạng-Diệu Nguyệt-Quang-Minh. Có Phật tên là Bất-Thối-Chuyển-Pháp-Giới-Ấm, thành Đẳng-Chánh-Giác nơi đạo tràng này.

Thuở đó ta làm Bồ-đề Thọ-Thần tên là Cụ-Túc-Phước-Đức-Đăng-Quang-Minh-Tràng. Ta thủ hộ đạo tràng ấy.

Ta thấy đức Phật Pháp-Giới-Ấm thành Đẳng-Chánh-Giác thị-hiện thần lực, ta phát tâm vô-thượng bồ-đề. Liền lúc đó ta được tam-muội tên là Phổ-chiếu-như-lai công-đức-hải.

Kế đó, trong đạo-tràng ấy có Như-Lai xuất thế hiệu là Pháp-Thọ-Oai Đức-Sơn.

Bây giờ ta mạng chung sanh trở lại làm đạo-tràng Chủ-Dạ-Thần, tên là Thù-Thắng-Phước-Trí-Quang.

Ta thấy đức Oai-Đức-Sơn Như-Lai hiện đại thần-thông chuyển chánh pháp-luân, liền được tam-muội tên là Phổ-chiếu-nhất-thiết-ly-tham-cảnh-giới.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Nhứt-Thiết-Pháp-Hải-Ấm-Thanh-Vương.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là sanh-trưởng-nhất-thiết-thiện-pháp-địa.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Bửu-Quang-Minh-Đăng-Tràng-Vương.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là Phổ-Hiện-Thần-Thông-Quang-Minh-Vân.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Công-Đức-Tu-Di-Quang.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là Phổ-Chiếu-Chư-Phật-Hải.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Pháp-Vân-Ấm-Thanh-Vương.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là Nhất-Thiết-Pháp-Hải-Đăng.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Trí-Đăng-Chiếu-Diệu-Vương.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là Diệt-Nhất-Thiết-Chúng-Sanh-Khổ-Thanh-Tịnh-Quang-Minh-Đăng.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Pháp-Dũng-Diệu-Đức-Tràng.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là Tam-Thế Như-Lai-Quang-Minh-Tạng.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Sư-Tử-Dũng-Mãnh-Pháp-Trí-Đăng.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là nhất thiết-thế-gian-vô-chướng-ngại-trí-huệ-luân.

Kế đó có Như-Lai xuất thế hiệu là Trí-Lực-Sơn-Vương.

Bấy giờ ta làm Dạ-Thần được gặp Phật và kính thờ cúng-dường. Ta liền được tam-muội tên là phổ-chiếu-chúng-sanh-chư-căn-hạnh.

Nầy thiện-nam-tử ! Trong thế-giới Thanh-Tịnh-Quang-Kim-Trang-nghiêm, thuở kiếp Phổ-Quang-Minh-Tràng, có phật-sát vi-trần số Như-Lai xuất thế như vậy.

Trong thời-gian đó, ta hoặc làm Thiên-Vương, Long-Vương, hoặc làm Dạ-Xoa-Vương, Càn-Thát-Bà-Vương, A-Tu-La-Vương, Ca-Lâu-La-Vương, Khẩn-Na-La-Vương, Ma-Hầu-La-Già-Vương, hoặc làm Nhân-Vương, Phạm-Vương, hoặc làm Thiên-Thân, Nhân-Thân, làm nam-tử, nữ-nhân, làm đồng-nam, đồng-nữ.

Nơi tất cả thân, ta đều kính thờ cúng-dường tất cả Như-Lai, nghe Phật thuyết-pháp.

Khi mạng-chung, ta sanh trở lại trong thế-giới đó, trải qua phật-sát vi-trần-số kiếp tu bồ-tát-hạnh.

Sau đó, ta mạng-chung sanh nơi Ta-Bà thế-giới trong Hoa-Tạng-Trang-Nghiêm-Thế-Giới-Hải nầy, gặp và cúng-dường đức Câu-Lưu-Tôn-Đà Như-Lai. Ta được tam-muội tên là ly-nhất-thiết-trần-cấu-quang-minh.

Kế đó gặp đức Câu-Na-Hàm-Mâu-Ni Như-Lai, ta kính thờ cúng-dường, được tam-muội tên là Phổ-Hiện-Nhất-Thiết-Chư-Sát-Hải.

Kế đó gặp đức Ca-Diếp Như-Lai, ta kính thờ cúng-dường, được tam-muội tên là Diễn-Nhất-Thiết-chúng-Sanh-Ngôn-Ấm-Hải.

Kế đó gặp đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như Lai thành Đẳng-Chánh-Giác nơi đạo-tràng nầy niệm niệm thị-hiện đại-thần-thông-lực. Do đó ta được môn giải-thoát niệm-niệm-xuất-sanh-quảng-đại-hỉ-trang-nghiêm.

Được giải thoát nầy rồi, ta có thể nhập mười bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết phật-sát vi-trần-số pháp-giới an-lập hải.

Ta thấy trong tất cả pháp-giới an lập-hải, bao nhiêu vi-trần của tất cả phật-sát. Trong mỗi vi-trần có mười bất-khả-thuyết bất khả-thuyết phật sát vi-trần-số phật-độ. Mỗi phật-độ đều có Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai ngồi đạo-tràng, trong mỗi niệm thành Đẳng-Chánh-Giác hiện đại-thần-biến. Những thần-biến của Như-Lai hiện đều khắp pháp-giới-hải.

Ta cũng thấy thân mình ở tại chỗ của tất cả Như-Lai, cũng nghe Phật nói diệu-pháp.

Ta cũng thấy tất cả chư Phật, nơi mỗi lỗ lông xuất hiện, thần-thông biến hóa khắp tất cả pháp-giới-hải, khắp tất cả thế-giới hải, khắp tất cả thế-giới chủng, trong tất cả thế giới tùy tâm chúng-sanh mà chuyển chánh-pháp-luân.

Nhơn đó ta được sức tốc-tật đà-la-ni, thọ trì tư-duy tất cả văn nghĩa. Dùng trí minh-liễu vào khắp tất cả pháp-tạng thanh-tịnh. Dùng trí tự-tại dạo khắp tất cả thậm thâm pháp-hải. Dùng trí châu-biến biết khắp những nghĩa quảng-đại trong tam thế. Dùng trí bình-đẳng đạt khắp pháp vô-sai-biệt của chư Phật.

Ta hiểu rõ tất cả pháp-môn như vậy. Trong mỗi mỗi pháp-môn, hiểu rõ tất cả tu-đa-la-vân. Trong mỗi mỗi tu-đa-la-vân, ta hiểu rõ tất cả pháp-hải. Trong mỗi mỗi pháp-hải, ta hiểu rõ tất cả pháp-phẩm. Trong mỗi mỗi pháp-phẩm, ta hiểu rõ tất cả pháp-vân. Trong mỗi mỗi pháp-vân, ta hiểu rõ tất cả pháp-lưu. Trong mỗi mỗi pháp-lưu xuất sanh tất cả đại-hỉ-hải. Mỗi đại-hỉ-hải xuất sanh tất cả địa. Mỗi địa xuất sanh tất cả tam-muội-hải. Mỗi tam-muội-hải được tất cả kiến-phật-hải. Mỗi kiến-phật-hải được tất cả trí-quang-hải. Mỗi trí-quang-hải chiếu khắp tam-thế, vào khắp mười phương, biết những hạnh-hải thuở xưa của vô-lượng Như-Lai, biết những bổn-sự hải của vô-lượng Như-Lai, biết năng-xả nan-thí-hải của vô-lượng Như-Lai, biết thanh-tịnh giới-luân-hải của vô-lượng Như-Lai, biết thanh-tịnh kham-nhẫn-hải của vô-lượng Như-Lai, biết quảng-đại-tinh-tấn hải của vô-lượng Như-Lai, biết thậm-thâm thiền-định hải của vô-lượng Như-Lai, biết bát-nhã ba-la-mật hải của vô-lượng Như-Lai, biết phương-tiện ba-la-mật hải của vô-lượng Như-Lai, biết nguyện ba-la-mật hải của vô lượng Như-Lai, biết lực ba-la-mật hải của vô-lượng Như-Lai, biết trí ba-la-mật hải của vô-lượng Như-Lai, biết vô-lượng Như-Lai thuở xưa siêu bồ-tát-địa, trụ bồ-tát-địa, hiện thần-thông lực trong vô-lượng kiếp hải.

Cũng biết vô-lượng Như-Lai thuở xưa nhập bồ-tát-địa, tu bồ-tát-địa, trụ bồ-tát-địa, quán bồ-tát-địa.

Biết vô-lượng Như-Lai, thuở xưa, lúc làm Bồ-Tát thường thấy chư Phật-hải, kiếp-hải đồng-trụ.

Biết vô-lượng Như-Lai, thuở xưa, lúc làm Bồ-Tát, dùng vô-lượng thân sanh khắp sát-hải.

Biết vô-lượng Như-Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-Tát, cùng khắp pháp-giới tu hạnh quảng-đại.

Biết vô-lượng Như-Lai, thuở xưa lúc làm Bồ-Tát, thị-hiện những phương-tiện-môn điều phục thành-thục tất cả chúng-sanh.

Biết vô-lượng Như-Lai phóng đại quang-minh chiếu khắp tất cả sát-hải mười phương.

Biết vô-lượng Như-Lai hiện đại-thần-lực ra trước tất cả chúng-sanh.

Biết trí quảng-đại của vô-lượng Như-Lai.

Biết vô-lượng Như-Lai chuyển chánh-pháp-luân.

Biết vô-lượng Như-Lai thị-hiện tướng-hải.

Biết vô-lượng Như-Lai thị-hiện thân hải.

Biết vô-lượng Như-Lai quảng-đại lực hải.

Tất cả chư Như-Lai đó từ sơ phát tâm nhẫn đến pháp-diệt, trong mỗi niệm ta đều thấy biết.

Nầy thiện-nam-tử ! Ngươi hỏi ta phát tâm đã bao lâu ?

Nầy thiện-nam-tử ! Thuở xưa quá hai phật sát vi-trần-số kiếp như đã nói ở trên, trong thế-giới thanh-tịnh-Quang-Kim-Trang-Nghiêm, ta làm Bồ-Đề-Thọ thần nghe đức Bất-Thối-Chuyển-Pháp-Giới Ấm Như-Lai thuyết pháp, ta phát tâm vô-thượng bồ-đề, tu bồ-tát hạnh suốt hai phật-sát vi-trần-số kiếp sau đó mới sanh trong Hiền-Kiếp nơi Thế Giới Ta-Bà nầy, từ Câu-Lưu-Tôn-Đà Phật, đến Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, và tất cả Phật vị-lai trong kiếp nầy, ta đều thân-cận cúng dường như vậy.

Trong tất cả thế-giới tất cả kiếp vị-lai đây có tất cả chư Phật, ta cũng đều thân-cận cúng-dường như vậy.

Nầy thiện-nam-tử ! Thế-giới Thanh-tịnh-Quang-Kim-Trang-Nghiêm hiện nay vẫn còn, chư Phật nối tiếp xuất hiện không dứt. Ngươi nên nhứt tâm tu môn bồ-tát-đại-dũng-mãnh nầy.

Bấy giờ Chủ-Dạ-Thần Tịch-Tịnh-Âm-Hải muốn tuyên lại nghĩa giải-thoát nầy, vì Thiện-Tài Đồng-Tử mà nói kệ rằng :

 

Thiện-Tài nghe ta nói

Môn thanh-tịnh giải thoát

Nghe rồi sanh vui mừng

Siêng tu cho rốt ráo

Xưa, vi-trần kiếp hải.

Ta phát tính nguyện lớn

Thanh-tịnh như hư-không

Thường quán nhất-thiết-trí

Ta nơi tam thế Phật

Đều có lòng tin mến

Cùng chúng-hội đạo-tràng

Đều nguyện thường thân-cận.

Xưa tôi từng thấy Phật

Vì chúng-sanh cúng-dường

Được nghe pháp thanh-tịnh

Tâm mình rất hoan-hỉ

Thường tôn trọng phụ mẫu

Cung-kính mà cúng-dường

Không thôi trễ như vậy

Vào môn giải-thoát nầy.

Người già bệnh nghèo cùng

Căn thân chẳng toàn vẹn

Đều thương giúp tất cả

Cho họ được an-ổn.

Nước, lửa và vua, giặc

Trong biển có khủng bố

Xưa ta tu các hạnh

Vì cứu chúng-sanh đó.

Phiền-não hằng hẩy hừng

Nghiệp-chướng luôn ràng buộc

Sa vào các đường hiểm

Ta cứu chúng-sanh đó.

Tất cả các ác-thú

Vô-lượng sự khốn khổ

Sanh già bệnh chết thảy

Ta sẽ đều trừ diệt.

Nguyện tận kiếp vị-lai

Vì khắp các chúng-sanh

Diệt trừ khổ sanh tử

Được Phật rốt ráo vui.

 

Nầy thiện-nam-tử ! Ta chỉ biết “MÔN GIẢI THOÁT NIỆM NIỆM SANH QUẢNG ĐẠI TRÍ TRANG NGHIÊM” nầy.

Như chư đại Bồ-Tát thâm-nhập tất cả pháp-giới-hải, đều biết tất cả những kiếp-số, thấy khắp tất cả cõi thành hoại. Ta thế nào biết được nói được công-đức-hạnh đó.

Nầy thiện-nam-tử ! Trong hội bồ-đề-tràng của đức Như-Lai đây có Chủ-Dạ-Thần tên là Thủ-Hộ-Nhất-Thiết-Thành-Tăng-Trưởng-Oai-Lực.

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát hạnh, tu bồ-tát-đạo.

Thiện-Tài nhứt-tâm quan-sát thân của Chủ-Dạ-Thần-Tịch-Tịnh-Âm-Hải rồi nói kệ rằng :

 

Tôi do Thiện-Hữu dạy

Đến chỗ Chủ-Dạ-Thần

Thấy Thần ngồi bửu-tòa

Thân lượng lớn vô-biên.

Những người chấp sắc-tướng

Chấp các pháp là có

Kẻ trí kém hiểu cạn

Chẳng biết cảnh-giới Thần.

Trời và người thế gian

Quan-sát vô-lượng kiếp

Cũng chẳng tính lường được

Vì sắc-tướng vô-biên

Xa lìa nơi năm uẩn

Cũng chẳng trụ nơi xứ

Dứt hẳn thế-gian nghi

Hiển hiện sức tự tại

Chẳng chấp pháp nội ngoại

Không động không chướng ngại

Mắt trí-huệ thanh-tịnh

Thấy Phật thần-thông-lực

Thân là chánh-pháp-tạng

Tâm là trí vô-ngại

Đã được trí quang chiếu

Lại chiếu các quần-sanh

Tâm nhóm vô-biên nghiệp

Trang-nghiêm các thế gian

Biết thế-gian là tâm

Hiện thân khắp chúng-sanh

Biết thế-gian như mộng

Tất cả phật như bóng

Các pháp đều như vang

Khiến người không chấp trước

Vì tam-thế chúng-sanh

Niệm niệm thị-hiện thân

Mà tâm vô-sở trụ

Mười phương khắp nói pháp

Vô-biên những sát-hải

Phật-hải chúng-sanh-hải

Đều ở trong một trần

Là giải-thoát của Thần.

 

Nói kệ xong, Thiện-Tài đảnh lễ Dạ-Thần hữu-nhiễu vô-số vòng ân-cần chiêm-ngưỡng từ tạ mà đi.



Diễn Giảng

PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI


Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng


27 tháng 05 1990



35.- DẠ THẦN TỊCH TỊNH ÂM HẢI

 

Nầy thiện-nam-tử ! Ta chỉ biết

MÔN GIẢI THOÁT NIỆM NIỆM SANH QUẢNG ĐẠI TRÍ TRANG NGHIÊM” nầy.


Hôm nay là buổi thuyết giảng thứ 109 về kinh Hoa Nghiêm tại chùa này. Trong lần trước, chúng tôi đã nói đến vị thiện tri thức thứ 34, tức là ngài Phổ Kiến Chúng Sanh Diệu Đức, cũng là một vị Dạ Thần, cũng là một nữ nhân.

Hôm nay, chúng tôi xin đi vào vị thứ 35, tức là ngài Tịch Tịnh Âm Hải, cũng là một vị Dạ Thần, và cũng là một nữ nhân. Tức là các ngài thọ sanh làm nữ nhân.

Trong lộ trình “nhập pháp giới” này, chúng ta biết rằng Thiện Tài đã đi qua những tầng lớp tâm thức, trước là bốn ấm, sau đó vào đến lớp thứ năm là thức ấm. Từ đó, ngài đi sâu vào tàng thức sơ năng biến để đến Diệu Tâm. Chúng ta hiểu rằng, sắc ấm bên ngoài thô kệch, và lực của nó rất hữu hạn, như chúng ta vung tay, vung chân, thì chỉ có thể ôm được một khoảng không gian rất nhỏ thôi. Nhưng càng đi sâu vào các ấm, thì tâm thức và khả năng tự tại lực của chúng ta ngày càng thênh thang, về sắc thân, thì căn thô kệch nhất là xúc giác, nó rất kém cỏi, chỉ khi có hợp, có ly mới có cảm giác mà thôi. Khi chúng ta sờ mó một vật, thì mới biết sự hiện hữu của nó là trơn, là láng, là sần sùi, nặng nhẹ v.v… vì vậy khả năng về không gian rất hạn hẹp. Nhưng lên đến những căn khác như mắt, tai, thì khả năng vễ không gian cao xa hơn nhiều, thí dụ như mắt ta có thể nhìn xa một dặm, một cây số, hay hơn nữa, cái tai có thể nghe xa hơn. Đó là nói về sắc ấm, và khả năng về không gian hạn hẹp. Nhưng lên đến thọ ấm, tức là vào lớp những cảm quan, thì với những quang minh hư minh vọng tưởng, nó có khả năng ôm không gian rộng rãi hơn. Tỷ dụ như đối với một người mình ghét, chỉ nhìn thấy họ đi từ xa tới, chưa cần đến gần hoặc đụng chạm, ta đã cảm thấy ghét rồi. Hoặc đối với người mình yêu cũng thế, mầm thọ ấm đã khởi lên từ xa rồi. Như vậy, so với sắc ấm, khả năng (ở đây lạ tôi nói lần lần các ấm để quí vị thấy lịch trình “nhập pháp giới” như vậy, là con cá Tích đi ngược giòng, ngày càng ôm rộng không gian, và ôm dài thời gian. Đi rất sâu, thì thời gian sẽ được hóa giải, lúc đó không còn quá khứ, vị lai, hiện tại nữa, và không gian cũng vậy, hoặc có nhiều chiều hơn). Vượt lên tưởng ấm, tự tại lực lại nhiều hơn. Nhưchúngta ngồi đây, khởi một tâm niệm nghĩ đến mặt trăng, thì tâm tưỡng đó chỉ cần một niệm ngắn đã lên đến mặt trăng rồi, vì thế, khả năng về không gian rất lớn. Đến khi vào được hành ấm, thì có lẽ nó sẽ ở trong một không gian khác hẳn với không gian chúng ta thường nhìn thấy, có thể nhiều chiều hơn. Sau đó, nó sẽ lọt vào thức ấm, lúc bấy giờ có thể nó sẽ hóa giải cả không gian và thời gian. Đó là lịch trình “nhập pháp giới.” Và sau cùng, chúng ta phải dùng thức ấm đó để .bao trùm cả pháp giới này. Chúng ta khó có thể dùng sắc ấm bao trùm pháp giới này vì nó rất hạn hẹp, thọ ấm cũng thế, tưởng ấm đã mở rộng hơn, nhưng vào hẳn thức ấm thì chính đó mới là con đường nhập pháp giới trọn vẹn. Và pháp giới vốn là thức biến.

Khi vào được tàng thức sơ năng biến, thì nó chính là cái bóng mờ của diệu tâm, mà trong bóng mờ đó có đủ cả chân lẫn vọng. Nên cần lặn sâu để gột sạch tất cả vọng đi thì lúc đó sẽ đến được cái chân, và cái chân ây, trong kinh gọi là Bạch Tịnh Thức hay Vô cấu Thức, hoặc Như Lai tạng xuất triền, hay Diệu tâm .v.v…

Vì vậy, mục tiêu tuyệt vời của nhà Phật là nhập pháp giới, không phải là giải thoát cho chính mình. Vì vậy đạo Phật dài xa, ít người tin, ít người vào nổi. Những hạnh nguyện hạnh phải làm lại rất khó khăn, như phải thí thân vô lượng kiếp, thân phải rơi lả tả như cánh hoa đào. Tại sao phải làm như vậy? Không phải cố tình phí phạm thân xác như vậy chơi đâu, nhưng thí thân như huyễn độ sanh để bao trùm pháp giỚ! như huyễn… Như trong kinh nói rõ, ban đầu ngài Thiện Tài đi gặp những vị thiện tri thức đầu thì chưa có gì lạ lùng lắm, sau đến những vị chủ dạ thần thì ngài đã đi sâu vào tàng thức rồi, nên An Trụ dạ thần nhắc đến cái tâm địa cần an trụ. Và các vị chủ dạ thần đều có nguyện hiện thân rất lớn, bao trùm hư không, phổ hào quang để gột tiềm thức và vô thức tạp nhiễm của chúng sanh. Đây, xin đi vào vị thiện tri thức thứ 35…

KINH: Bấy giờ Thiện Tài đồng tử ở chỗ Dạ Thần Phổ Cứu Chúng sanh Diệu Đức, nghe pháp môn giải thoát bồ tát phổ hiện nhất thiết thế gian điều phục chúng sanh.

GIẢNG: Lúc nào, các ngài cũng độ sanh bằng cách phổ hiện nhất thiết thế gian, hoặc biến hành v.v… Tu đến mức độ thân mình trải khắp tất cả chỗ , nhưng làm thì có vô lượng cách làm khác nhau, vì trong sự độ sanh có nhiều phương tiện, nhưng thường thì phải hiện thân khắp mọi nơi, thân phải trùm pháp giới, đôi khi hiện hình thành con sư tử, thành con trùng núp dưới cánh hoa, hoặc những thân rất lớn bao trùm cả hư không thì mới có thễ độ sanh nhiều dược. Vị thiện tri thức này có tên Phổ Hiền Nhất Thiết Thế Gian, lúc nào cũng phổ hiện khắp chốn, lúc nào cũng hiện thân trong mọi lỗ lông, hiện vô lượng thân bằng số chúng sanh.

KINH: Thiện Tài biết rõ tin hiểu, tự tại an trụ trong môn giải thoát đó.

GIẢNG: Chúng ta cũng nên để ý rằng, từ giờ về sau, khi Thiện Tài đi gặp vị thiện tri thức nào, đều đắc được môn giải thoát của vị đó, chứ không phải như trước nữa, vì trước nhiều khi chỉ nghe thôi chứ chưa đắc được…

KINH: Thiện Tài đến chỗ Dạ Thần Tịch Tĩnh Âm Hải đảnh lễ chân chũ dạ thần hữu nhiễu vô số vòng chắp tay cung kính thưa rằng, bạch đức thánh tôi đã phát tâm vô thượng bồ đề. Tôi muốn nương theo thiện tri thức để học bồ tát hạnh, nhập bồ tát hạnh…

GIẢNG: Vị thiện tri thức nào cũng là tịch tĩnh Âm Hải hoặc An trụ, v.v… tức là đi sâu vào tâm. Và dạo sau này, Thiện Tài hỏi cách nhập bồ tát hạnh chứ không còn hỏi học bồ tát hạnh thế nào nữa. Vì các vị thiện tri thức sau này, các ngài đã viên mản nhiều công hạnh.

KINH: Lành thay, lành thay, này thiện nam tử, ngươi có thể nương thiện tri thức cầu bồ tát hạnh. Này thiện nam tử, ta được môn giải thoát bồ tát niệm niệm xuất sanh quảng đại hỉ trang nghiêm.

GIẢNG: Các vị chủ dạ thần thường nói đến chữ “hỷ.” Như ngài thứ 33 thì nói ngài được môn giải thoát “tịch tĩnh thiền định lạc phổ du bộ,” lạc phổ du bộ là ngài đi vào các tam muội, vào tất cả các nơi, và toàn thấy sự hỷ lạc. Một ngài khác thì được “Phổ hỷ tràng;’ v.v… , còn vị này thì được môn “niệm niệm xuất sanh quảng đại hỷ trang nghiêm.” Tóm lại, các ngài này toàn nói về ” hỷ” cả, vì khi đi sâu vào tâm thức, thì sự thọ hỷ lạc rất lạ lùng mầu nhiệm, thân tâm tràn đầy những hỷ lạc khó tả. Phần đông chúng ta sống với những giác quan thô kệch, hay thấy lòng nhưtrống vắng, buồn phiền v.v… vì chúng ta chưa khơi được dòng suối hỷ lạc trong tâm. Chúng ta thường chỉ dùng những giác quan thô kệch cùng những tâm tưởng dứt nối lăng xăng, rồi trông thế gian chỉ thấy có cây, cỏ, người, vật v.v… khi vui, khi buồn, khi yêu, khi ghét nên nhiều khi ta thấy cảnh giới chung quanh thật là cằn cỗi hạn hẹp, vì chúng ta chưa đi sâu vào cái tâm vi diệu ấy. Theo như các kinh nói, thì nó là một giòng suối vô tận của hỷ lạc. Vì vậy, các vị tu hành cao, không hề cảm thấy buồn vớ vẩn cả, và các ngài thường khởi tâm từ, tâm bi để cứu độ thôi. Trở về vị thiện tri thức này, ngài được môn “niệm niệm xuất sanh quảng đại hỷ trang nghiêm” , thì mỗi niệm ngài khởi lên đều tràn đầy hỷ lạc .

KINH: Thiện Tài thưa, Đại thánh, môn giải thoát này sự nghiệp thế nào, cảnh giới thế nào, khởi phương tiện gì? quán sát thế nào? … Ta phát tâm nguyện bình đẳng thanh tịnh, ta phát khởi tâm trọn không thối chuyển,… ta phát khởi tâm bất động như bửu sơn,… ta phát khởi tâm nguyện lực thanh tịnh cầu tất cả bồ tát…

GIẢNG: Đại khái vẫn như vậy thôi, vẫn là thanh tịnh, vẫn bình đẳng, vẫn là bất động v.v… quan sát có nhiều mức độ, tu hành đến một mức độ nào đó, hành giả tưởng đã đến thanh tịnh rồi nhưng chưa phải là thật rốt ráo thanh tịnh.

KINH: …ta phái khởi tâm làm cho tất cả chúng sanh bỏ rời ái biệt ly khổ và oán tằng hội khổ…

GIẢNG: Trên con đường bồ tát hạnh, có rất nhiều mức độ, nhưng mức độ của vị thiện tri thức này đã cao lắm rồi.

KINH: Ta phát khởi những tâm như vậy rồi, lại vì chúng sanh mà thuyết pháp, làm cho họ lần lần đến bực nhất thiết trí…

GIẢNG: Thuyết pháp khiến chúng sanh lần lần đến bực nhất thiết trí thì vị này quá sức ghê gớm rồi.

KINH: Như là nếu thấy chúng sanh mến luyến nhà cửa cung điện của họ ở, thời ta vì họ mà thuyết pháp cho họ thấu rõ tự tánh của các pháp lìa chấp trước.

GIẢNG: Dụ như có người mến luyến nhà cửa, gia đình cung điện nhiều thì các ngài thuyết pháp như khổ, không, vô thường, vô ngã v.v… nếu chúng ta cứ chạy theo nắm bắt những thứ ấy thì dĩ nhiên là phái thọ khổ rồi.

KINH: Nếu thấy chúng sanh mến luyến cha mẹ, anh em, chị em, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ được dự chúng hội thanh tịnh chư Phật bồ tát.

GIẢNG: Từ vô thủy đến nay, trong vô lượng kiếp, chúng ta đi trong các cõi giữa những người thân, hoặc chồng, vợ, cha mẹ, anh em, con cái bạn bè v.v… quá thân thiết, nhưng ít khi chúng ta lại nghĩ rằng, chính những người thân thuộc đó làm cho ta lẩn quẩn trong luân hồi sanh tử. Nên các ngài phải thuyết pháp dạy rằng tất cả chí là nhân duyên mộng huyễn, mà ta phải tìm những người bạn đường thanh tịnh, những vị đó mới là người dẫn dắt chúng ta đi lên mà thôi. Đạo Phật nói rất rõ những ý nghĩa của cuộc đời, đôi khi làm người nghe rất chối tai và không chịu tin, nhưng chính thực nó là như vậy.

KINH: Nếu thấy chúng sanh mến luyến vợ con, thời ta vì họ mà thuyết pháp, cho họ rời bỏ sanh tử ái nhiễm, khởi tam đại bi, với tất cả chúng sanh bình đẳng vô nhị.

GIẢNG: Nếu thấy những người nào yêu quý vợ con quá thì ngài phải thuyết về tâm đại bi bình đẳng, đừng có ngã sở và ngã kiến. Tình thương là rất tốt, nhưng tâm đắm nhiễm riêng một người nào đó thì không nên, vì tâm mình phải trải rộng ra, bình đẳng, ngang với pháp giới này mới được. Đạo Phật cũng chính là đạo hiếu, nhưng chữ hiếu đó rất cao. Nếu đối với bố mẹ, chúng ta cung phụng đầy đủ về vật chất, lo cho bố mẹ không phải thiếu thốn thứ gì, thì đó là sự hiếu đễ theo đạo Khổng, và sự hiếu đễ đó không được rốt ráo lắm, phải làm cho bố mẹ thoát được luân hồi sanh tử mới thực là có hiếu. Đến khi thành Phật thì chúng ta độ cho những người thân quen từ vô lượng kiếp, là ai? chính là chúng sanh cả, vì trong vô lượng kiếp ta cứ luân hồi lên lên, xuống xuống trong sáu nẻo, nên ai ai cũng đều là quyến thuộc của ta cả, nghĩ như vậy trong tâm ta mới khởi được niệm từ bi, và trải rộng tâm mình bình đẳng được. Trong kinh có kể, có những vị làm vợ chồng với nhau trong 500 kiếp, rồi dần dần đưa nhau vào đạo cùng tấn tu cho đến thành Phật quả. Như ngài A Nan và bà Ma Đăng Già đã từng làm vợ chồng với nhau năm trăm kiếp, đến kiếp này gặp Phật thì cả hai đắc quả A La hán, từ tình đời chuyển thành tình đạo, hoặc như ngài Cù Ba, tức là vị Bồ tát thị hiện làm vợ thứ hai của Đức Phật từ những chuyện tình duyên kiếp trước, sau chuyển thành vua Chuyển Luân Vương và Bửu Nữ, sau rốt mới đắc đạo. Tóm lại, tất cả vọng tình, như tình yêu thì tu cao sẽ chuyển thành Đại Bi, còn tất cả các vọng tưởng khi tu cao sẽ chuyển thành Trí Huệ, trí huệ là nhìn được những thực tướng, tánh không của các pháp.

Trong những đạo khác thì chưa biết dùng chữ “vọng tưởng,” hoặc không dám nói đến vọng tưởng, chỉ nói đến vọng tình mà thôi, như trong Thiên Chúa Giáo, khuyên các nữ tu coi Đức Chúa Giê-Su như vị hôn phu của mình, thì đó là chuyển những vọng tình ở mức độ thấp, chưa biết thăng hoa rốt ráo vọng tình đó, và cũng chưa biết đối trị vọng tưởng. Nên không phải mình chủ quan với đạo Phật, nhưng càng nghĩ kỹ càng thấy đạo Phật là một tuyệt vời, có thể đưa con người đi đến mức độ giải thoát rốt ráo. Nhưng căn cơ chúng sanh thời mạt pháp này quá sức cạn cợt, càng nói thấp bao nhiêu càng có nhiều người theo bấy nhiêu, vì họ cảm thấy ấm áp hơn, gần gũi hơn, dễ hiểu hơn, và nhất là phần đông căn trí lười biếng, không thích suy nghĩ, không thích tinh tấn dõng mãnh, chỉ thích có một đấng thần quyền nào đó để nương về, nhất là về. Vì vậy, các tôn giáo chưa cao tột vẫn có nhiều người theo là vậy.

Một hành giả khi tu lên cao, sẽ trở thành Bửu Nữ hoặc Chuyển Luân Vương, sau đó hành giả ấy sẽ làm bạn với những vị bồ tát thân hào quang sáng chói, bay trên hư không đi chơi cái cõi, cúng dường chư Phật mười phương.

KINH: Này thiện nam tử, ta quán sát chúng hội đạo tràng này, biết Phật thần lực vô lượng vô biên sanh lòng rất hoan hỉ.

GIẢNG: Ngài thường quán sát chúng hội đạo tràng liên miên không ngớt nên trong lòng sanh hoan hỉ. Ngài nói sự vui mừng khi nghĩ đến Phật thần lực vô lượng vô biên. Chúng ta cũng vậy, nếu chịu khó tu hành thì thế nào cũng đến mức độ như thế, ai cũng vậy cả, chỉ có cái là mau hay chậm mà thôi.

KINH: Này thiện nam tử, ta quán Tỳ Lô Giá Na Như Lai, niệm niệm xuất hiện bất tư nghi sắc thân thanh tịnh. Thấy như vậy rồi lòng ta rất vui mừng.

GIẢNG: Nếu như trong gia đình chúng ta gặp phải những chuyện khó khăn, buồn rầu, hay có người đau ốm thì nên nghĩ đến chư Phật mười phương, hoặc niệm hồng danh đức Phật A Di Đà thì sự đau khổ sẽ bớt đi nhiều, và suy nghĩ xa hơn, biết rằng, tương lai của chúng ta đều bất tử cả, như vậy ta sẽ mở dần kho vô tận của an lạc. Vì tất cả sự khổ lụy chỉ là phù du, nổi lên chốt lát như đám mây đen, đều chỉ do tâm mình quyện vào đó, nhưng nếu biết cách cởi thì tâm lại trong sạch như bầu trời đã trôi đi những áng mây đen

KINH: Lại thấy Đức Như Lai trong mỗi niệm phóng đại quang minh sung mãn pháp giới, thấy như vậy rồi lòng ta rất vui mừng. Lại thấy Đức Như Lai mỗi lỗ lông niệm niệm xuất hiện vô lượng Phật sát vi trần số quang minh hải, mỗi quang minh có vô lượng phật sát vi trần số quang minh làm quyến thuộc, mỗi mỗi châu biến tất cả pháp giới, tiêu diệt tất cả chúng sanh khổ. Thấy như vậy rồi lòng ta rất vui mừng.

GIẢNG: Thật ra, việc “suy tư nhớ tưởng chư Phật” là một điều rất lợi ích và nên làm thường xuyên, không những nó đưa ta ra khỏi phiền muộn, khổ não, mà nó còn đem lại trong tâm ta sự hoan hỉ vô cùng, vì sao? Vì trong tâm ta có thể nở lên những chủng tử từ, bi, hỉ, xả. Đại khái tất cả chỉ là những thiên la võng quang minh của chư Phật trùm che lên chúng ta mà thôi.

KINH: Này thiện nam tử, ta nhập bồ tát niệm niệm xuất sanh quảng đại hỉ trang nghiêm giải thoát quang minh hải này. Giải thoát này vô biên, vì vào khắp tất cả pháp giới môn. Giải thoát này vô tận, vì khắp phát tâm nhất thiết trí tánh. Giải thoát này vô tế, vì vào trong tâm tất cả chúng sanh không giới hạn. Giải thoát này thậm thâm…, giải thoát này quảng đại…, giải thoát này vô hoại…, giải thoát này không đáy…, giải thoát này chính là phổ môn…, giải thoát này trọn không có sanh, vì rõ biết được pháp như huyễn…

GIẢNG: Tất cả đều phải quán như huyễn cả, tức là các ngài đều vào trung đạo rồi. Quán như huyễn là thấy các pháp đều không thật không hư, ngay cả thân mình như huyễn mộng thôi, dần dần tâm mình đạt đến đáy tầng tâm thức, thì lúc đó sự an lạc mới vô biên.

KINH: Giải thoát này như ảnh tượng vì nhất thiết trí nguyện quang sanh ra. Giải thoát này dường như biến hóa vì hóa sanh những thắng hạnh bồ tát…

GIẢNG: Đại khái là như huyễn, vô biên ,vô hoại biến hóa không cùng v.v…

KINH: …giải thoát này như bóng của mình, vì do thiện nghiệp của mình hóa xuất ra. Giải thoát này như tiếng vang vì tùy nghi mà thuyết pháp. Giải thoát này như ảnh tượng, vì tùy tâm chúng sanh mà chiếu hiện. Giải thoát này như đại thọ vương vì nở xòe tất cả hoa thần thông.

GIẢNG: Tâm chúng ta như bông hoa, khi hoa ấy rũ xuống thì tâm buồn rầu ủ rũ, khi nó nở xòe ra thì ta thấy vui sướng. Tất cả pháp giới đều là những đóa hoa, tâm chúng ta cũng là một đóa hoa, thân chúng ta cũng là một đóa hoa, cái cây kia cũng là một đóa hoa, ngay cả con kiến cũng là một đóa hoa nở trên cái biển uyên nguyên ấy, như những bọt bong bóng nước. Khi hoa ấy nở ra thì thành chữ “HỒNG,” khi nó cụp lại thì thành chữ “ÚM”. Ta cứ nhớ đến những điều đó và thỉnh thoảng quán chiếu luôn thì chắc được nhiều công đức .

KINH: Bạch đức thánh, tu hành thế nào để được môn giải thoát này? Dạ thần nói, này thiện nam tử, bồ tát tu hành mười đại pháp tạng được giải thoát này. Một là tu bố thí quảng đại pháp tạng tùy tâm chúng sanh đều khiến đầy đủ. Hai là tu tịnh giới quảng đại pháp tạng, vào khắp tất cả biển phật công đức. Ba là tu kham nhẫn quảng đại pháp tạng, có thể khắp tư duy tất cả pháp tánh. Bốn là tu tinh tấn quảng đại pháp tạng, vì xu hướng nhất thiết trí hằng chẳng thối chuyển. Năm là tu thiền định quảng đại pháp tạng, vì có thể diệt trừ tất cả chúng sanh nhiệt não. Sáu là tu bát nhã quảng đại pháp tạng, vì có thể biết rõ khắp tất cả pháp hải. Bảy là tu phương tiện quảng đại pháp tạng, vì có thể thành thục những chúng sanh hải. Tám là tu những nguyện quảng đại pháp tạng, vì tận vị lai kiếp tu bồ tát hạnh khắp tất cả cõi phật, tất cả chúng sanh. Chín là tu những lực quảng đại pháp tạng, vì niệm niệm hiện thành Đẳng Chánh Giác nơi tất cả pháp giới, nơi tất cả quốc độ thường chẳng thôi dứt…

GIẢNG: Ở đây, ngài dạy Thiện Tài tu mười độ. Tất cả các vị thiện tri thức không bao giờ dạy khác cả, chỉ có dạy quanh quẩn ở những điểm then chốt là bát nhã, đại bi, mười độ và quán như huyễn, nhưng mỗi ngài nói theo một cách, nhất là về cách quán chiếu như huyễn.

KINH: Mười là tu tịnh trí quảng đại pháp tạng, được Như Lai trí biết khắp tất cả pháp tam thế không có chướng ngại.

GIẢNG: Nên chúng ta phải luôn nhớ quán chiếu như huyễn, bát nhã, đại bi và mười độ.

KINH: Thiện Tài thưa, Đại thánh phát tâm vô thượng bồ đề này đã bao lâu?

GIẢNG: Bao giờ cũng vậy, khi Thiện Tài hỏi một vị thiện tri thức phát tâm bồ đề được bao lâu thì các ngài luôn luôn trả lời rằng việc này khó biết, khó bàn, khó nói lắm, vì sao? Vì tất cả chỉ là vấn đề thời gian, vì các ngài tu hành từ rất lâu xa về trước, từ a tăng kỳ kiếp. Nhưng đối với cái tâm đã chín rồi thì không còn là a tăng kỳ kiếp nữa, mà a tăng kỳ cũng chỉ như một niệm mà thôi. Nhưng phần đông, nhâì là những chủ dạ thần, các ngài kể bổn sanh, bổn sự rất nhiều, từ kiếp trước ra sao, có vô lượng phật ra đời như thế nào, những công (lức cúng dường của các ngài ra sao v.v… lúc đó các ngài là vương nữ hay một vị thái tử, ngài tới nghe pháp nên dác được pháp môn này, ngài còn kể rõ những cõi tên gì, có các cõi tịnh, uế, và các đức Phật ra đời như thế nào v.v… Và trong các cõi ấy, có những ao nở những hoa sen khiến có thể biết rằng trong bao ngàn năm nữa sẽ có đức Phật nào ra đời, ngài kể tất cả bổn sanh bổn sự để chúng ta hiểu rằng pháp giới này rất lạ lùng, có thể nở ra đủ các thứ. Có những kiếp con người sống lâu vài vạn tuổi, cho đến vô lượng kiếp tùy theo phước lực và trí lực để đả phá các kiến chấp của chúng ta. Vì phần đông chúng ta hay chấp vào ngũ căn và nhất là ý thức, chỉ thấy chung quanh trái đất này, chỉ biết được nhiều nhất là mấy ngàn năm trước bằng cái ý thức, nên chỉ chấp có từng đó, rất hạn hẹp. Nhưng trong kinh lại nói khác hẳn, nói bởi những bậc có ngũ nhãn. Nên ta phải hiểu rằng, hình thái hiện hữu của mỗi loài chúng sanh khác biệt theo phước lực, trí lực. Nếu không đọc đạo Phật thì chúng ta không thể biết rằng có những thời kỳ hoặc cõi mà loài người thọ mấy vạn tuổi, mà có khi thọ vô lượng kiếp nữa. Nên phải hiểu rằng, tất cả là tùy ở cái tâm mà ra cả. Vì vậy các ngài hay kể những bổn sanh, bổn sự để cho chúng ta thấy rằng có nhiều kiếp khác nhau, nhiều loại chúng sanh khác nhau, nhiều thứ cộng nghiệp và nghiệp báo rất khác, và các ngài thường nói ta phải tu hành ngàn ấy kiếp, lâu xa không thể tính đếm được, và kiếp đó các ngài đã làm chủ dạ thần rồi, sau bao nhiêu vi trần số Phật ra đời, các ngài vẫn là thọ thần, chủ dạ thần để độ sanh. Mà có lẽ các ngài không muốn thọ sanh theo đạo lực của mình, mà các ngài cứ thị hiện những địa vị thấp để độ sanh.

KINH: Này thiện nam tử, phía Đông của Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải này, qua khỏi mười thế giới hải, có thế giới hải tên là Nhất Thiết Tịnh Quang Bửu. Trong thế giới hải này có thế giới chủng tên là Nhất Thiết Như Lai Nguyện Quang Minh Âm, trong đó có thế giới tên là Thanh Tịnh Quang Kim Trang Nghiêm, thể chất bằng hương kim cang ma ni vương, hình như lâu các. Diệu Bửu Vân làm biên tế, ở trong biển nhất thiết bửu anh lạc, mây diệu cung điện che trên. Tịnh uế lẫn lộn.

GIẢNG: Các ngài thường kể những thế giới như vậy rất nhiều. Thì ta phải hiểu các ngài cốt nói cho chúng ta thấy trong pháp giới có rất nhiều vẻ, chúng ta đừng tin vào các mắt thịt, hai cái tai, cộng thêm cái ý thức tầm thường để khăng khăng nghĩ rằng không thể có những cảnh giới khác. Vì trong pháp giới này, cái gì cũng có thể có được, cái gì trong mộng tưởng chúng sanh có thì pháp giới đều có hết. Khi chúng sanh mộng một mộng tưởng nào đó lâu dài thì đến một kiếp nào đó chúng sanh ấy sẽ thác sanh trong cảnh mộng ấy, và lúc bấy giờ, mộng sẽ trở thành thực. Như nếu chúng ta mơ tưởng cõi Cực Lạc của Đức A Di Đà lâu thì lúc chết chúng ta sẽ được vãng sanh ở cõi đó. Tất cả chỉ là tưởng, tưởng lâu sẽ nở ra thành sự thật hiện hữu. Nhưng có một điểm tôi muốn nhấn mạnh, trong kinh Phật có nói rõ, nhất là kinh Duy Ma nói tất cả các cõi đều là hư không, tất cả các cõi đều do chư Phật hóa hiện ra để độ chúng sanh thôi. Lúc đầu ai nghe cũng thấy vướng, vì kiến chấp quá sức nặng nề. Vì sao? Vì một thế giới đồ sộ văn minh như nước Mỹ này, đầy những núi sông, ao hồ, nhà cửa, cây cối, xe hơi chạy như suối, thì làm sao mà tất cả những thứ đó là do chư Phật hóa hiện ra được? Ấy thế mà khi suy nghĩ kỹ thì thấy rất đúng, rất có lý rằng tất cả đều do tâm ánh ra và thần lực của Phật gia trì mà ra cả. Vì khi đến kiếp hoại tất cả những vật chất này đều tan biến hết cả, cả thế giới này không còn một chút gì nữa, tan biến hoặc rút sang cõi khác rồi, nên ta thấy rõ rằng những thứ vật chất đó chỉ là biến hiện mà. Một phần là tùy theo nghiệp lực chúng sanh, phần do thần lực Phật gia trì, một phần do nguyện lực của chư đại bồ tát, nên thế giới này được thành lập và huyễn hóa ra như thế. Nếu chúng ta tin được điều đó thì chắc chắn khi lâm chung, dù gió nghiệp thổi ào ạt, mà vẫn giữ vững lòng tin thì chúng ta đều được thần lực của Đức A Di Đà đưa sang Cực Lạc cả. Ngay cả chúng ta ngồi đây, tụng kinh và thuyết pháp chính chúng ta đang ngồi trong thân của ngài Quán Thế Âm mà chúng ta không hề hay biết.

Trở lại kinh, ngài chủ dạ thần này kể thuở đó ta làm chủ dạ thần, ta phát tâm vô thượng bồ đề, lúc bất giờ ta thấy đức Phật, nhìn thấy thần lực của đức Phật tự nhiên ta phát tâm vô thượng bồ đề. Chúng ta căn cơ cạn mỏng, phước đức thì ít mà nghiệp chướng thì nhiều, nên rất khó có thể nhìn thấy.

KINH: Bấy giờ ta mạng chung, sanh trở lại làm đạo tràng chủ dạ thần tên là Thù Thắng Phước Trí Quang. Ta thấy đức Oai Đức Sơn Như Lai hiện đại thần thông chuyên chánh pháp luân, liền được tam muội tên là phổ chiếu nhất thiết ly tham cảnh giới.

GIẢNG: Ngài cứ kể như thế, tất cả những bổn sanh bổn sự từ quá khứ, kế đó…, kế đó…, lại có đức Phật này, đức Phật khác, mà mỗi một vị Phật ngài lại tăng tiến về đạo lực.

KINH: …trong thời gian đó, ta hoặc làm Thiên Vương, Long vương, hoặc làm Dạ Xoa vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La vương, Ca Lâu La vương, Khẩn Na La Vương, Ma Hầu La Già vương, hoặc làm Nhân vương, Phạm Vương, hoặc làm Thiên Thân, Nhân thân, làm nam tử, nữ nhân, làm đồng na, đồng nữ… Nơi tất cả thân ta đều kính thờ cúng dường tất cả Như Lai, nghe Phật thuyết pháp. Khi mạng chung ta sanh trở lại trong thế giới đó, trải qua phật sát vi trần số kiếp tu hành bồ tât hạnh. Sau đó ta mạng chung sanh nơi Ta Bà Thế Giới trong Hoa Tạng trang nghiêm thế giới hải này, gặp và cúng dường đức Câu Lưu Tôn Đà Như Lai, ta được tam muội tên là Ly nhất thiết trần cấu quanh minh, kế đó gặp đức Câu Na Hàm Mâu Ni Như Lai…, kế đó gặp đức Ca Diếp Như Lai…, kế đó gặp đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai…

GIẢNG: Ngài kể trong hiền kiếp này mới có bốn đức Phật ra đời, ngài đều gặp cả. Vị Phật đầu tiên là ngài Câu Lưu Tôn, rồi đến ngài Câu Na Hàm, đến ngài Ca Diếp, rồi cuối cùng đến ngài Thích Ca Mâu Ni, còn ngài thứ năm trong tương lai là ngài Di Lặc ở tiểu kiếp thứ mười, bẵng đi đến kiếp thứ 15 thì có một vị Phật ra đời, rồi đến kiếp thứ 16 đến kiếp thứ 19 thì không có một vị Phật nào ra đời cả, phải đợi đến kiếp thứ 20 thì có 994 vị Phật ra đời, ngài kể như vậy để cho Thiện Tài và chúng sanh chúng mình nghe.

KINH: … trong hiền kiếp nơi thế giới Ta Bà này, từ Câu Lưu Tôn Đà Phật, đến Thích Ca Mâu Ni Phật, và tất cả Phật vị lai trong kiếp này, ta đều thân cận cúng dường như vậy.

GIẢNG: Tức là ngài nói ngay đến vị lai, vì pháp nhãn của ngài quá rộng, nên ngài trông thấy như vậy. Ở vị thiện tri thức này, chúng ta cần nhớ cái “niệm niệm xuất sanh quảng đại hỉ trang nghiêm.” Nhớ tâm chúng ta là cả một nguồn suối an lạc, nếu mở được tâm ấy, thì như người đào được giếng thây được mạch nước, thì bấy giờ ta sẻ được an lạc, không còn bị ngoại vật như tiền bạc, áo cơm, danh lợi bệnh tật làm lay động được nữa. Mà tất cả ai cũng mong được đến chỗ đó. Nhìn lại cuộc đời này xem, cái gì cũng phù du cả, mọi sự đến rồi đi, thành rồi hoại, ta không thể nắm giữ được. Nhưng sự an lạc này thì có thể giữ được, và đó cũng chính là cái “nguồn bất tử’ vậy.

Comments

Popular posts from this blog