ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT

HOA NGHIÊM KINH

 

Phẩm Nhập Pháp Giới

Thứ ba mươi chín

 

Hán Dịch: Ðại Sư Thật-Xoa-Nan-Ðà

Việt Dịch: Hòa thượng THÍCH TRÍ TỊNH



11.- TỲ KHEO THIỆN KIẾN


Này thiện nam tử ! Ta chỉ biết  “MÔN GIẢI THOÁT BỒ TÁT TÙY THUẬN ĐĂNG” này.


 

Bấy giờ Thiện Tài suy gẫm hạnh của Bồ Tát an trụ rất sâu, pháp của Bồ Tát chứng rất sâu, chỗ của Bồ Tát nhập rất sâu, suy gẫm chúng sanh vi tế trí rất sâu, thế gian nương nơi tưởng mà trụ rất sâu, hạnh của chúng sanh làm rất sâu, tâm lưu chú của chúng sanh rất sâu, chúng sanh như quang ảnh rất sâu, chúng sanh danh hiệu rất sâu, chúng sanh ngôn thuyết rất sâu. Suy gẫm trang nghiêm pháp giới rất sâu, gieo trồng nghiệp hạnh rất sâu, nghiệp trang sức thế gian rất sâu.

Thiện Tài đi lần qua phương Nam đến nước Tam Nhãn tìm TỲ KHEO THIỆN KIẾN. Thấy Tỳ Kheo ấy đi kinh hành trong rừng, tuổi trẻ dung mạo xinh đẹp tóc xanh biếc xoáy về phía hữu không rối, đảnh đầu có nhục kế, da màu huỳnh kim, cổ có ba ngấn, trán rộng bằng thẳng, mắt dài rộng như thanh liên hoa, môi miệng đỏ sạch như trái tần bà, ngực có chữ "VẠN", bảy chỗ bằng đầy, cánh tay thon dài, ngón có màng lưới, trong bàn tay bàn chân có kim cang luân, thân đẹp lạ như trời Tịnh Cư, trên dưới ngay thẳng như cây ni câu đà, những đại nhơn tướng và tùy hình hảo đều viên mãn cả, nghiêm sức như núi Tuyết, mắt nhìn chẳng nháy, viên quang một tầm, trí huệ rộng rãi như đại hải, nơi các cảnh giới tâm không bị động, hoặc trầm hoặc cử, hoặc trí hoặc phi trí, tất cả động chuyển hí luận đều trừ hết. Ðược cảnh giới bình đẳng của Phật. Lòng đại bi giáo hóa chúng sanh không tạm bỏ. Vì muốn lợi lạc tất cả chúng sanh. Vì muốn khai thị pháp nhãn Như Lai. Vì noi theo đường của Như Lai đi, chẳng chậm chẳng mau, đi kinh hành kỹ chắc.

Vô lượng Thiên, Long, Bát Bộ cùng Nhơn, Phi nhơn vây quanh sau trước.

Chủ Phương Thần theo phương hồi chuyển dẫn đường ở trước.

Túc Hành Thần cầm bửu liên hoa đở chân Tỳ Kheo.

Vô Tận Quang Thần phóng quang phá tối.

Diêm Phù Tràng Lâm Thần rải những hoa đẹp.

Bất Ðộng Tạng Ðịa Thần hiện những bửu tạng.

Phổ Quang Minh Hư Không Thần trang nghiêm hư không.

Thành Tựu Ðức Hải Thần mưa Ma ni bửu vô cấu tạng.

Tu Di Sơn Thần đầu đảnh kính lễ cúi mình hiệp chưởng.

Vô Ngại Lực Phong Thần rải hoa đẹp thơm.

Xuân Hòa Chủ Dạ Thần trang nghiêm nơi thân cả mình mọp xuống đất.

Thường Giác Chủ Thần cầm tràng ma ni chiếu khắp các phương, ở giửa hư không phóng đại quang minh.

Thiện Tài đồng tử đến chỗ Thiện Kiến Tỳ Kheo đảnh lễ chắp tay cúi mình thưa rằng :

Bạch đức Thánh ! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, cầu Bồ Tát hạnh. Tôi nghe đức Thánh hay khéo khai thị những đạo Bồ Tát. Xin vì tôi mà dạy thế nào học Bồ Tát hạnh ? Thế nào tu Bồ Tát đạo ?

Thiện Kiến Tỳ Kheo nói :

Này thiện nam tử ! Ta tuổi còn trẻ, xuất gia lại chưa được lâu.

Trong đời này, ta tịnh tu phạm hạnh ở chỗ ba mươi sáu hằng hà sa đức Phật. Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu một ngày một đêm. Hoặc có đức Phật, ta tu bảy ngày bảy đêm. Hoặc có chỗ đức Phật, ta tu nửa tháng hoặc một tháng, một năm, trăm năm, muôn năm, ức năm, na do tha năm, nhẫn đến hoặc có chỗ đức Phật ta tu phạm hạnh bất khả thuyết bất khả thuyết năm. Hoặc một tiểu kiếp, hoặc nửa đại kiếp, hoặc một đại kiếp, trăm đại kiếp nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đại kiếp nghe diệu pháp và thọ hành giáo pháp của chư Phật, trang nghiêm thệ nguyện, nhập chỗ sở chứng, tịnh tu công hạnh, đầy đủ sáu môn ba la mật hải.

Cũng thấy chư Phật đó thành đạo thuyết pháp, mỗi mỗi sai biệt không tạp loạn, trụ trì di giáo đến diệt tận.

Cũng biết chư Phật đó trước kia phát nguyện, dùng nguyện lực tam muội nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Dùng sức tam muội nhập tất cả hạnh mà tịnh tu tất cả Bồ Tát hạnh. Dùng sức Phổ Hiền thừa xuất ly mà thanh tịnh tất cả Phật Ba la mật.

Lại này thiện nam tử ! Lúc ta kinh hành, trong một niệm, tất cả mười phương, đều hiện tiền, vì trí huệ thanh tịnh vậy. Trong một niệm, tất cả thế giới đều hiện tiền vì đi qua bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ thảy đều nghiêm tịnh, vì thành tựu sức đại nguyện vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh sai biệt hạnh thảy đều hiện tiền, vì đầy đủ mười trí lực vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết thân Phật thanh tịnh đều hiện tiền, vì thành tựu Phổ Hiền hạnh nguyện lực vậy. Trong một niệm cung kính cúng dường bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Như Lai, vì thành tựu tâm nhu nhuyến nguyện lực cúng dường Như Lai vậy. Trong một niệm lãnh thọ bất khả thuyết bất khả thuyết Như Lai pháp, vì được chứng vô số pháp sai biệt trụ trì pháp luân đà la ni lực vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát hạnh hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực hay tinh tu tất cả hạnh như nhơn đà la võng. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết những tam muội hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực nơi một môn tam muội nhập tất cả môn tam muội đều khiến thanh tịnh. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết chư căn hải đều hiện tiền, vì được nguyện lực rõ biết chư căn tế, ở trong một căn thấy tất cả căn vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thời gian thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực trong tất cả thời gian chuyển pháp luân, chúng sanh giới tận nhưng pháp luân vô tận vậy. Trong một niệm, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả tam thế hải thảy đều hiện tiền, vì được nguyện lực trí quang minh biết rỏ tất cả phần vị tam thế, trong tất cả thế giới vậy.

Này thiện nam tử ! Ta chỉ biết “MÔN GIẢI THOÁT BỒ TÁT TÙY THUẬN ĐĂNG” này.

Còn như chư đại Bồ Tát như kim cang đăng ở nhà Như Lai chơn chánh thọ sanh, thành tựu đầy đủ mạng căn bất tử, thường thắp trí đăng không tắt mất.

Thân của các Ngài kiên cố không bị chướng hoại, hiện thân sắc tướng như huyễn, như pháp duyên khởi vô lượng sai biệt, tùy tâm chúng sanh mỗi mỗi thị hiện hình mạo sắc tướng, trong đời không gì sánh bằng, tên độc, hỏa tai không hại được. Như núi kim cang không ai phá hư được. Hàng phục tất cả chúng ma ngoại đạo. Thân các Ngài đẹp tốt như núi chơn kim. Ở trong nhơn thiên rất là thù đặc. Tiếng tốt rộng lớn không ai chẳng nghe biết. Xem các thế gian đều đối trước mắt. Diễn pháp tạng sâu như biển vô tận. Phóng đại quang minh chiếu khắp mười phương.

Nếu có ai thấy chư đại Bồ Tát này thời phá tất cả núi lớn chướng ngại, thời nhổ tất cả gốc bất thiện, thời khiến gieo trồng gốc lành quảng đại.

Những bậc như vậy rất khó thấy được rất khó xuất hiện thế gian. Ta làm sao biết được nói được công đức hạnh đó.

Này thiện nam tử ! Phương Nam đây có một nước tên là Danh Văn. Trong bãi sông của xứ đó có một đồng tử tên là Tự Tại Chủ. Người đến đó hỏi : Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo ?

Bấy giờ Thiện Tài đồng tử vì muốn rốt ráo hạnh Bồ Tát dũng mãnh thanh tịnh. Muốn được Bồ Tát đại lực quang minh. Muốn tu những hạnh công đức vô thắng vô tận của Bồ Tát. Muốn viên mãn đại nguyện kiên cố của Bồ Tát. Muốn thành thâm tâm quảng đại của Bồ Tát. Muốn trì vô lượng thắng hạnh của Bồ Tát.Với Bồ Tát phát tâm không nhàm đủ. Nguyện nhập tất cả công đức của Bồ Tát. Muốn thường nhiếp ngự tất cả chúng sanh. Muốn vượt khỏi rừng rậm hoang vu sanh tử. Với các thiện tri thức thường thích thấy nghe, thờ phụng cúng dường không nhàm đủ. Thiện Tài đảnh lễ nơi chân Thiện Kiến Kỳ Kheo, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

 


Diễn Giảng

PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI


Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng

 

 10 tháng Tư 1990

 

Kính thưa Đại Đức trụ trì cùng chư vị đạo hữu…

Hôm nay là buổi thuyết giảng thứ 105 về kinh Hoa Nghiêm tại chùa này… Lần trước chúng ta đã đến vị thiện tri thức thứ mười tức là vị Đồng Nữ Từ Hạnh.

Trong việc đi sâu vào không hải, đi sâu vào tàng thức sơ năng biến, đến chỗ đáy tàng của tâm thức ấy, trong lộ trình đó, các vị thiện tri thức đều chỉ dạy chúng ta một thứ đó là Đại Bát Nhã, Đại Bi và vô sở cầu hạnh. Dù trong kinh nói rất nhiều hình thái, mầu sắc, nhiều pháp môn và giải thoát môn, nhưng chung quy đi đến cùng thì vẫn chỉ có Bát Nhã, Đại Bi và vô sở cầu hạnh mà thôi.

Tác động của Bát Nhã trong tâm thức là thế nào? Tức là quán chiếu tất cả sự vật, quán mình, quán người, và pháp giới, rồi sau đó chia chẻ các vật thành những vi trần, thành lân hư trần để tiêu dung vào biển không hải ấy. Vậy thì tác động cốt thiết của Bát Nhã là chia chẻ.

Còn tác động cốt thiết của Đại Bi là gì? Là tụ tập. Một khi hành giả chia chẻ những thứ đó thành bụi hào quang rồi, thì các vị lại phải tụ tập các bụi hào quang lại, hợp thành những làn sóng, rồi hiện tướng lên, thành những tướng người, sắc thân, cảnh giới v.v… để độ sanh. Nên tóm lại, tác động của tâm thức cốt thiết có chừng đó thôi, trong khi làm hai tác động ấy, tâm hành giả phải giữ bình lặng đến chỗ vô sở cầu hạnh thì mới đạt đến mức tuyệt vời. Vì vậy, việc hiện hóa thân vô lượng, cảnh giới vô lượng phải do đại bi, tụ tập lại mới được. Nếu ta nhìn thế gian này, thông thường phàm nhân và cả khoa học cũng làm những tác động đó, nhưng làm khác với các vị Đại giác. Thí dụ như khi khoa học khảo xét các cực vi đi vào vật lý, hạt tử, thì cũng chia chẻ sự vật thành nguyên tử, âm điện tử, dương điện tử, trung hòa tử, thành nhiều hạt tử nhỏ v.v…

Đó cũng là một thứ chia chẻ, nhưng không phải là một hành động bát nhã. Vì sao? Vì khoa học còn chấp những thứ bị chia chẻ đều là thật có, nên khoa học chỉ làm tác động của một trí thông minh thế gian thôi, không phải là tác động của bát nhã. Còn về việc tụ tập, khoa học cũng có hành động tụ tập, tỷ dụ như khi họ muốn làm một cái xe, họ cũng tụ tập bằng cách mang các thứ ráp nối lại, từng phần một để tạo nên cái xe, sau đó cho dòng điện và xăng chạy vào, và điện và xăng cũng là thức biến. Song sự tụ tập này không phải là do đại bi, ngược lại nó do sự chấp ngã cùng tham ái thường tình của thế gian, và không biết cái đó là huyễn. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta cũng làm tác động tụ tập và chia chẻ luôn luôn mà không hề biết, và vẫn vấp vào tâm tham ái, không có bát nhã và đại bi. Đồng thời phải nhận rằng khoa học tạo nên nhiều thứ máy, và cũng có những thần thông nho nhỏ. (Những điều này, ta cũng cần biết, vì một khi hiểu đạo Phật thì phải rọi ánh sáng trí huệ vào tất cả nhân gian và pháp giới này để có thể lồng những thứ đó vào tuệ giác của nhà Phật). Chẳng hạn như telephone cũng là một thứ “thiên nhĩ thông” của khoa học, xa mây nghìn cây số cũng nghe được tiếng nói của người thân, hoặc hệ thống truyền hình chiếu từ các nước, ta có thể dùng TV để thấy được, đó là “thiên nhãn thông.” Hoặc một hỏa tiễn bay nhanh và rất xa, thì cũng hơi giống như “thần túc thông.” Nhưng giữa khoa học và nhà Phật khác nhau ở chỗ nào? ở chỗ khoa học chưa dùng được những quang minh (radiations) cực kỳ vi tế và mầu nhiệm của Tâm lực, chỉ dùng được những quang minh thô kệch của vật tức sắc ấm thôi, mà chính khoa học cũng không hiểu được vật là quang minh, vì nó đã tụ lại và hiện tướng rồi. Khoa học cũng chưa hiểu hư không là gì, thời gian là gì, chưa vào được Thọ ấm, Hành ấm, Thức ấm (vì chưa biết Thiền định). Vì vậy, những thần thông nhỏ của khoa học không tự tại, vì phải dùng những ngoại vật ráp nối vào nhau để tạo nên thần thông ấy. Tuy nhiên, khoa học có thể làm cho nhiều người trông thấy, và sử dụng những “thần thông” ấy, như ai ai cũng có thể mở TV để xem, có thể dùng xe đi đây đi đó v.v… Nhưng trong kinh lại tả về đại tự tại lực của chư Phật như trong chúng hội Pháp Hoa chẳng hạn, Phật gia trì và nâng cao tâm thức của chúng hội lên, khiến cả chúng hội đều có thiên nhãn thông, nhìn thấy các cõi thông suốt nhau không ngăn ngại. Thiên nhãn thông nhà Phật rất ghê gớm, vì sao? Vì dùng ngay tâm lực, là cái cỗi nguồn tinh lực nguyên sơ trong pháp giới này, mà không dùng những ngoại vật ráp nối, đồng thời dùng tâm niệm để khởi lên tức khắc. Nhưng con đường đi đến chỗ dụng tâm tuyệt vời đó rất khó, phải cần thiền định nhiều kiếp, có khi đến a tăng kỳ kiếp mới đạt đến mức viên dung ấy. Trái lại, khoa học chĩ cần vài ba chục năm thì có thể phát minh ra nhiều thứ máy rồi. Nên tuy gọi là “thần thông,” nhưng chúng ta phải hiểu hai thứ “thần thông” khác nhau là như vậy.

Nếu chúng ta làm một con đường vòng đi qua ngoại vật, thì chúng ta sẽ đạt đến chỗ của khoa học ngày nay, nghĩa là chóng vánh và dễ được, nhưng rất hạn hẹp và nhiều phiền não. (Phiền não vì lo trả tiền, lo máy hỏng, tâm không yên ổn như lòng người xã hội ngày nay). Nhưng phần đông người đời hay thích những cái có kết quả ngay, vì sao? Vì họ không đủ sự kiên tâm đi con đường dài xa cần khổ của sự tu tập từ kiếp này qua kiếp khác. Phải là người có một lòng tin ghê gớm lắm mới có thể đi con đường Phật đạo, nhưng đến một ngày nào đó, đức A Di Đà hay ngài Quán Thế Âm đưa tay tiếp dẫn thì lúc đó, con đường sẽ thênh thang, dễ dàng, ít ám chướng và tình nhiễm. Tỷ dụ như nói về bệnh, khoa học cũng chĩ mò mẫm chữa được chút đĩnh mà thôi, vì thuốc là gì? Đó chính là sự tụ họp của sắc ấm, tức là một sự lác động bề ngang, mà ta nên nhớ rằng tât cả pháp giới này phụt lên từ điểm không hư, tạo nên thức ấm, rồi hành ấm, rồi tưởng ấm, rồi thọ ấm cuối cùng mới đến sắc ấm. Nên chữa theo khoa học là chữa theo bề ngang, sở dĩ chữa ngang là vì khoa học không dùng được tâm lực, chưa vào được hành ấm, ngay cả tưởng ấm khoa học vẫn còn rất lơ mơ, nên thuốc của khoa học có thể gọi là thuốc của Ma Vương. Tâm lực của chúng ta chỉ theo nghiệp lực phụt lên thôi, chứ chúng ta chưa thể chi phối được nó. Nhưng một khi, nếu dùng tâm lực chữa được thì bệnh tật sẽ khỏi hẳn. Còn như dùng thuốc của Ma Vương chữa theo bề ngang, thì chỉ đỡ được đôi chút, sau lại trở lại, đó là chưa kể đến vân đề side eííect của thuốc đó. Vì nếu ta dùng thuốc này để chữa một bệnh nào đó, thì nó chữa được bệnh đó rồi, lại có thể gây ra một bệnh khác, nên cứ quanh quẩn phải dùng hết thứ thuốc này đến thuốc kia.

Chúng ta hiểu như thế, và nói ra như thế, nhưng chúng ta vẫn phải dùng thuốc của Ma Vương, vì sao? Vì tâm lực của chúng ta còn tồi quá, chưa lên được đến thọ ấm huống chi là lên đến hành âm, nên khó thể tự chữa được, về kinh Phật, cần hiểu rõ về năm ấm, thì nhìn pháp giới mới rõ được, mà về sau, dùng con mắt trí huệ đó nhìn tât cả pháp thế gian, từ tôn giáo, đến các môn học thế gian, các sự chuyển động lăng xăng của tâm thức, chúng ta có thể định giá rất rõ, biết cái nào cao, cái nào thấp, cái nào là hữu hạn, cái nào vô hạn, ngay cả khi ta nói chuyện với một người, ta có thể hiểu tâm thức người đó đang đứng ở mức độ nào, tâm tư ra sao, sự hiểu biết của họ thế nào. về triết học, ngay cả thuyết Thượng Đế cũng đúng đấy, nhưng chỉ đúng ở mức độ chưa tuyệt vời thôi, và tùy theo lối nhìn của chúng sanh mà thấy pháp giới này có một sắc thái nhưthế nào. Tỷ dụ như có người nghĩ rằng vũ trụ này là do những vị quĩ thần cai quản, nên họ phải thờ và lễ lạy, thì cũng được, vì các vị đó cũng có vai trò riêng của họ, họ cũng có một ít thần thông và có thể giúp đỡ họ được chút đỉnh. Giống như một người thường dân đi cung kính mấy anh lính lệ để xin vào thăm tù, nhưng anh lính đó không giúp họ được bao nhiêu, không thể thả thân nhân họ ra khỏi tù. Lên cao hơn thì cung kính vị quan huyện, may ra quan huyện có thể thả được người thân của họ, nhưng vẫn không có thể cứu chuộc được tội nặng. Chỉ khi nào lên đến vua thì lúc đó mới có thể làm được nhiều việc. Tất cả những tôn giáo và những triết học là thế, chỉ tùy theo lối nhìn mà thôi. Vì vậy đạo Phật luôn luôn nhấn mạnh đến ngũ nhãn, mà các tôn giáo khác không hề biết đến, có chăng chỉ biết đến thiên nhãn là cùng. Ngay đến cái huệ nhãn cũng còn không biết chứ đừng nói là pháp nhãn. Không phải chúng ta nói đây để chê bai tôn giáo khác đâu, nhưng nói để gây lòng tin cho người nghe, là về những tôn giáo khác thì thiên đường của họ chỉ ở những tầng trời Dục giới hay sắc giới, chưa ra khỏi ba cõi. Vì thế, chư Phật mới xuất hiện nơi đời bên Ấn Độ, vì ở đó rất nhiều người tu hành, dụng công và cần khổ, giữ những giới cấm rất gay go nhưng lệch lạc, như nằm trên gai, đi trên than hồng, đứng co chân v.v…, và những Ihứ đó vẫn không đưa hành giả đến sự giải thoát.

Bây giờ xin trở về với phẩm nhập pháp giới…

Trước khi đi vào kinh, chúng tôi xin tóm tắt qua về lộ trình của Thiện Tài đi tìm cầu thiện tri thức trong những kỳ giảng qua. Bắt đầu là ngài Đức Vân, nếu ta phân tích dần dần thì chỉ thấy các ngài dạy toàn là Bát Nhã và Đại Bi chứ không có gì khác cả, ngài Đức Vân dạy Thiện Tài một pháp môn là pháp môn Niệm Phật, Chúng ta cũng phải nhớ một điều, trong kinh nói đến 53 vj thiện tri thức tức là tượng trưng cho 53 bậc từ sơ trụ dốn Đẳng Giác, nhưng đó chỉ là hình tướng thôi, còn thực trong kinh rất linh động, vì vị tu có thể vượt một lúc hai, ba bậc được hay có thể thọ giáo 2, 3 vị thiện tri thức về cùng một bậc đó cũng được, vì trong kinh có nhiều vị dạy trùng nhau lắm. Điểm thứ hai là tất cả Bồ Tát đạo chĩ có 10 độ thôi, thì tất cả các vị thiện tri thức này đều tu 10 độ cả, nhưng trong mười độ đó, hành giả trội hơn hẳn về một độ nào đó thì sẽ đắc giải thoát môn về độ đó. Thí dụ có vị tu về bố thí, sau ngài đắc giải thoát môn như “vỗ tận tạng phúc đức” chẳng hạn, nhưng ngài vẫn tu 10 độ. Có vị tu về tâm từ, đó là hạnh nguyện chính, nhưng ngài vẫn song song tu cả 10 độ. Vì vậy, ta không nên chia chẻ ra một cách thứ bực quá đáng, như nói là ở vị thiện tri thức đầu là chĩ ở sơ trụ mà thôi, hay vị thứ hai là nhâ’t thiết ở nhị trụ, hoặc tu bố thí, rồi trì giới, rồi nhẫn nhục v.v… điều đó có vẻ không đúng lắm với ý kinh. Vì sao? Vì các vị đi trên con đường Bồ Tát đạo thường đều tu cả 10 độ, nhưng các vị chọn cho mình một độ chính yếu, tùy theo căn cơ sở thích, thì sẽ đắc được giải pháp môn và tam muội đó. Giải thoát môn tức là tam muội. Trong tam muội có nhiều đà la ni, nhiều khả năng, nhiều diệu đức nở ra trong tâm thức các ngài…

Trở về ngài Đức Vân, ngài dạy môn “Niệm nhát thiết chư Phật cảnh giới quang minh,” tức là dạy niệm Phật để được niệm Phật tam muội. Quán Phật tức dùng tâm tưởng mình quán đức Phật hiện lên trong tâm tưởng của mình, tức là đến mức độ tưởng ấm. Nhưng khi chúng ta thấy đức Phật hiện lên như vậy cũng chưa phải là đức Phật thật đâu, vì đó chỉ là Phật theo tâm tưởng của mình thôi. Khi nào hành giả đưa tâm tưởng sâu vào đến hành ấm rồi thức ấm, thì lúc đó, tự nhiên đức Phật hiện tới tàng thức đó, và hai vị Phật, Phật ở ngoài tâm và Phật ở trong tâm sẽ nhập một, lúc đó cái nhị biên mới được xóa bỏ, mà chỉ còn có một Phật mà thôi. Và Phật này có thể độ mình được. Ta cần phải hiểu điều đó, vì nhiều vị tu thiền cứ nói rằng “duy tâm tịnh độ,” nhưng duy tâm tịnh độ thì hành giả cũng phải khởi ông Phật trong tâm lên trước đã, vào đến tàng thức rồi thì vị Phật ở ngoài mới có thể nhập một vào vị Phật trong tâm được, vì vậy, lên đến tột cùng thì trở thành bình đẳng vô nhị. Và tịnh độ mới duy tâm. Nhưng chúng ta thường thường quán chiếu rất kém, chỉ tu được trì danh thôi… Ngài thứ nhì là ngài Hải Vân, tức là vào đến “cửa bể của tâm.” Ngài kể cho Thiện Tài nghe mà chưa gia trì cho Thiện Tài gì cả, ngài chỉ kể rằng: “Ta ngồi nơi đây quán cái biển này, và luôn suy tư rằng đại hải này sâu thế nào, rộng thế nào, có gì lớn hơn và sâu hơn biển này không, và trong biển hàm chứa tất cả châu báu, chúng sanh thân to lớn, và biển không bao giờ đầy, vơi. Tất cả nước trên thế gian đổ vào biển cũng không bao giờ đầy cả. Quán trong mười hai năm, một chu kỳ viên mãn, thì biển đó mọc lên một đại bửu liên hoa, tức là pháp giới này,” như vậy, ngài dạy Thiện Tài quán giả. chi có đạo Phật mới nói rằng pháp giới này giống một bông liên hoa thôi, vì Phật nhãn của ngài lớn quá, ngài nhìn rõ nó như một đóa hoa để trên bàn tay mà thôi… Ngài thiện tri thức thứ ba là ngài Thiện Trụ, ngài đi trên hư không, Thiện Trụ tức là giữ tâm rất khéo, đi giữa sắc và không, giữa quán giả và quán không, như con chim bay hai cánh mà không lệch bên nào. Nên ngài dạy cho Thiện Tài giữ cái tâm chẳng có, chẳng không… Ngài thứ tư là ngài Di Già, là một vị Cư sĩ, dạy cho Thiện Tài tụng chú, dạy cho Thiện Tài biết tất cả pháp giới này khởi lên từ những diệu âm nguyên sơ, cần làm sao khiến tâm thức mình chuyển động bập bềnh đúng theo tần số của những âm thanh nguyên sơ đó mà chư Phật hằng tụng, như vậy hành giả sẽ dễ nhập vào diệu tâm. Bốn vị này, dạy cho Thiện Tài gần như là đủ những con đường tu chính… Đến ngài thứ 5 là ngài Trưởng Giả Giải Thoát, Thiện Tài đi từ ngài Di Già đến ngài Trưởng Giả Giải Thoát mất 12 năm, cũng là một chu kỳ viên mãn của sự tu tập, tôi đoán trong 12 năm này, Thiện Tài tụng chú và quán chiếu miên mật theo lời dạy của 4 vị thiện tri thức. Tới ngài Giải Thoát, gọi tên là “Giải Thoát” vì ngài trung quán song chiếu giữa giả và không rất thuần thục rồi, nên ngài “nhập pháp giới” ngay cho Thiện Tài trông thấy, ngài nhập pháp giới bằng cách hiện vô số thế giới trong thân mình một cách rõ ràng… Rồi đến vị Hải Tràng Tỳ Kheo, tức là vị thiện tri thức thứ 6, thấy ngài ngồi bất động trong 6 tháng, ngài hiện tất cả những hóa thân vô lượng từ dưới chân, lên đến đầu gối, rồi eo, rồi lưng, rồi ngực, rồi mắt, rồi trán v.v…, có nghĩa là ngài dạy Thiện Tài môn hóa thân vô lượng, vì phải có hóa thân vô lượng mới độ sanh được, Bồ Tát đại sỹ bao giờ cũng đạt tới Pháp thân đại sỹ, hóa hiện sắc thân vô lượng. Rồi đến vị thiện tri thức là ngài Hưu Xả Ưu Bà Di. Vị này chỉ nhắc Thiện Tài có một câu thôi, đó là khi đi trên con đường Bồ Tát đạo, cốt yếu là “Hưu Xả,” hưu là hượm lại, xả là bỏ, có nghĩa là không bao giờ xả bỏ Bồ Đề Tâm. Ở đây, ngài không dạy cho Thiện Tài pháp môn nào cả, mà chỉ dạy cho Thiện Tài luôn luôn phải giữ Bồ Đề Tâm. Đến ngài thứ 8 là một vị ngoại đạo tiên ông tên là Tỳ Mục Cù Sa. Trong kinh Phật, nhiều vị ngoại đạo không phải thật là ngoại đạo, mà là những vị Bồ Tát thị hiện ở trong ngoại đạo, vì sao? Vì phải thị hiện đồng sự với họ, cũng tu như họ để độ sanh để chuyển hóa họ. Vì vậy, đức Phật ra đời các đại đệ tử của ngài đều từ ngoại đạo ra cả. Bắt đầu từ ngài Ca Diếp và đồ chúng của ngài kéo về hơn một nghìn người, rồi đến ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v… Vì khi đức Phật thọ sanh xuống nhân thế, thì các đệ tử của ngài, do tu với ngài từ nhiều kiếp trước, cũng theo ngài thọ sanh như chùm nho, mỗi vị tản mát vào trong ngoại đạo… Trở về với kinh, ngài Tỳ Mục Cù Sa là vị đầu tiên đưa Thiện Tài vào 5 tam muội, ở đây, vì Thiện Tài đã quán không, giả và trung khá thuần thục rồi, cũng là vẫn vào cái biển tâm ấy thôi, nhưng tùy theo mức độ nông sâu mà nhìn hay đắc được một vài tam muội hay nhiều tam muội, ở đây, chúng tôi xỉn nhắc lại một chút về “biển tâm,” vì nó có rất nhiều tên gọi, mỗi tên gọi lại mang theo một ý nghĩa riêng. Nó có thể gọi là biển Diệu Tâm, là chân Như, Pháp Tánh, Phật Tánh, Tột Không, Như Thật Bất Không, cũng gọi là Như Lai Tạng Xuất Triền, xuống thấp nữa vì có vọng thì gọi là Như Lai Tạng Tại Triền, rồi Tàng thức sơ năng biến… Đến vị thiện tri thức kế tiếp là một vị ngoại đạo, là ngài Thắng Nhiệt Bà La Môn. “Thắng Nhiệt” là cái lửa tối thắng, khi Thiện Tài đến thấy vị này đốt một đống lửa lớn, dưới là núi đao, núi đao tượng trưng cho phiền não tà kiến, lửa là dụ cho trí huệ. Tu hành là phải dùng 5 trí huệ của giới, định, huệ, giải thoát, v.v… để tiêu trừ những tà kiến. Và trong khi Thiện Tài từ trên cao nhảy vào núi đao, thì đắc được mây môn tam muội, như “Thiện Trụ tịch tĩnh tam muội.” Tức là lúc đó Thiện Tài trung quán đã giỏi lắm rồi, vì “thiện trụ” tức là khéo trụ giữa cái có và cái không, không nghiêng về bên nào cả. Đến vị thiện tri thức thứ 10 là ngài Từ Hạnh, đó là một vị Đồng Nữ. Ngài cho Thiện Tài xem cung điện của ngài tức là xem cái tàng thức sơ năng biến biến thành những y báo trang nghiêm, vào đó thây mặt gương rất nhiều, tượng trưng cho Bát Nhã và cảnh giới râ’t nhiều tượng trưng cho Đại Bi…

Đó là tóm tắt những vị thiện tri thức mà chúng ta đã đi qua trong những kỳ giảng trước. Thì đây, chúng ta lại tiếp tục cuộc hành trình đi vào tâm thức của Thiện Tài để gặp thêm những vị thiện tri thức kế tiếp. Bốn vị này cũng đều tu về bố thí cả. Thế mới biết, trong con đường Bồ Tát đạo, hành bố thí rất quan trọng, vì nó mở hết cả mọi đường, cũng như việc niệm Phật vậy. Tôi xin đọc mấy câu của Đồng Nữ Từ Hạnh nói về sự chứng đắc của mình.

Kinh:

Này thiện nam tử, đây là môn “Bát Nhã Ba La Mật phổ trang nghiêm.”

Giảng:

“Bát Nhã” là Bát Nhã, còn “phổ trang nghiêm” là Đại Bi, để trang nghiêm y báo và độ sanh. Và sau khi ngài đắc tam muội ấy, thì có trăm vạn đà la ni, những năng khiếu của tâm nỏ ra như hoa, biết tất cả Phật pháp. Như là… môn nghiệp bất thất hoại đà la ni, năng khiếu biết tất cả những nghiệp báo v.v…


11.- THIỆN TÀI GẶP TỲ KHEO THIỆN KIẾN


Này thiện nam tử ! Ta chỉ biết  “MÔN GIẢI THOÁT BỒ TÁT TÙY THUẬN ĐĂNG” này.


 

Kinh:

Này thiện nam tử, phương Nam đây có một nước tên là Tam Nhãn. Xứ đó có một Tỳ Kheo tên là Thiện Kiến. Ngươi đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bổ Tát đạo.

Giảng:

“Tam Nhãn” là ba con mắt, “Thiện Kiến” là khéo nhìn. Ý nghĩa đoạn kinh này là vị thiện tri thức đây có nhiều thứ mắt lại khéo nhìn tất cả những thiện hạnh. Ngũ nhãn là nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn, ở đây, kinh nói đến tam nhãn, tức là huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn, không cần nói đến nhục nhãn và thiên nhãn, vì các vị này và Thiện Tài đều có thiên nhãn cả rồi, và ở đây, Thiện Tài phải tới đó tu sao để có được huệ nhãn, rồi pháp nhãn, sau cùng đạt được đến Phật nhãn.

Kinh:

Bấy giờ Thiện Tài suy gẫm hạnh của Bồ Tát an trụ rất sâu, pháp của Bồ Tát chứng rất sâu, chỗ của Bồ Tát nhập rất sâu. Suy gẫm chúng sanh vi tế rât sâu, thế gian nương nơi tướng mà trụ rất sâu, hạnh của chúng sanh làm rất sâu, tâm lưu trú của chúng sanh rất sâu, chúng sanh như quang ảnh rất sâu…

Giảng:

Chúng sanh như quang ảnh rất sâu…, cho ta thấy rõ tất cả toàn là quang minh, phải lặn vào biển quang minh để thấy tất cả chúng sanh chập chờn biến hiện ra sao.

Kinh:

Chúng sanh danh hiệu rất sâu, chúng sanh ngôn thuyết rất sâu.

Giảng:

Chúng ta thường chỉ thấy cái tâm theo bề mặt của nó mà không lường được bề sâu. Khi một hành giả đi sâu vào tâm thức, thì sẽ thây rõ tất cả những quang minh biến hiện. Lúc đó hành giả sẽ thấy những danh hiệu hay ngôn thuyết, đó chỉ là những bập bùng quang minh và chúng ăn rể ở rất sâu…

Kinh:

Thiện Tài đi lần qua phương Nam đến nước Tam Nhãn, tìm Tỳ Kheo Thiện Kiến. Thấy Tỳ Kheo ấy đi kinh hành trong rừng, tuổi trẻ dung mạo xinh đẹp, tóc xanh biếc xoay về phía hữu không rối, đảnh đầu có nhục kế, da màu huỳnh kim, cổ có ba ngân, trán rộng bằng phẳng…

Giảng:

Đoạn kinh này, tả về chánh báo của vị thiện tri thức rất đẹp, có lẽ ngài có khoảng 28 hay 30 tướng tốt của đức Phật.

Kinh:

Lòng Đại Bi giáo hóa chúng sanh không tạm bỏ. Vì muốn lợi lạc tất cả chúng sanh, vì muốn khai thị pháp nhãn Như Lai. Vì noi theo đường Như Lai đi, chẳng chậm, chẳng mau, đi kinh hành kỹ chắc.

Giảng: đi kinh hành chẳng chậm, chẳng mau… tức là không rơi vào hữu biên, vì đi mau cũng sai, chậm cũng sai. Trong khi vị này đi kinh hành thì có vô lượng Thiên Long Bát Bộ, chủ Phương Thần theo hầu. Đi kinh hành, chúng ta vẫn phải hiểu theo hai nghĩa, nghĩa đen là ngài vẫn đi kinh hành thật, nghĩa tượng trưng là tâm ngài qua lại không ngừng giữa sanh tử và Niết Bàn, giữa Bát Nhã Chân Không và Đại Bi Diệu Hữu. Lúc nào cũng nhớ đến bi nguyện để độ sanh. Ta cũng nên nhớ một điều, phần lớn những tướng tốt mà các vị tu hành có được thường là do bố thí cả, nếu có một thân căn đẹp như thiên thần đều do tu bố thí mà ra. Phần đông những tướng tốt của chư Phật cũng là do bố thí cả.

Kinh:

Thiện Tài Đồng Tử đến chỗ Thiện Kiến Tỳ Kheo đảnh lễ chắp tay cúi mình thưa rằng: Bạch đức Thánh, tôi đã phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, cầu Bồ Tát hạnh. Tôi nghe đức Thánh khéo khai thị những đạo Bồ Tát, xin vì tôi mà dạy thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo?

Thiện Kiến Tỳ Kheo nói: Này thiện nam tử, ta tuổi còn trẻ xuất gia chưa được lâu. Trong đời này, ta tịnh tu phạm hạnh ở chỗ 36 hằng hà sa đức Phật…

Giảng: ở đây, trong kinh nói lên hai khía cạnh, câu đầu là nói theo thế gian, dùng con mắt thịt để nhìn, thì thây ngài còn trẻ thật, xuất gia chưa lâu, nhưng kỳ thực trong vô lượng kiếp ngài đã tu lâu lắm rồi. Mà trong kiếp này, tuy rằng ngài mới thọ sanh ít lâu, nhưng thâm tâm của ngài tu rất sâu, tưởng chừng tu qua 36 hằng hà sa chư Phật. Tâ’c cả là ở vấn đề tâm thức…

Kinh:

Hoặc có chỗ đức Phật ta tu một ngày một đêm, hoặc có chỗ đức Phật ta tu bảy ngày bảy đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm…, một kiếp, nửa đại kiếp…, nhẫn đến bất khả thuyết, bất khả thuyết đại kiếp.

Giảng: Câu đầu, ngài nói theo thời gian thông thường tức là theo thế đế, dùng con mắt thịt để nhận biết, câu sau ngài nói theo đệ nhát nghĩa đế, theo pháp nhãn và Phật nhãn.

Kinh:

Này thiện nam tử, lúc ta kinh hành trong một niệm, tất cả mười phương đều hiện tiền, vì trí huệ thanh tịnh vậy. Trong một niệm tất cả thế giới đều hiện tiền, vì đi qua bất khả thuyết, bất khả thuyết thế giới vậy…, trong một niệm bất khả thuyết, bất khả thuyết chúng sanh sai biệt hạnh thảy đều hiện tiền, vì đầy đủ mười trí lực vậy…

Giảng: ở đây, kinh nói đến chữ “hiện tiền,” vậy chúng ta hiểu chữ “hiện tiền” này ra sao? Tôi xin nhắc rằng trong phẩm thứ bảy của Pháp Hoa, phẩm “Hóa thành dụ,” cũng có nói đến chữ “hiện tiền,” nói rằng ngài Đại Thông Trí Thắng Như Lai thủa xưa ngồi dưới Bồ Đề đạo tràng trong mười kiếp mà Phật pháp không “hiện tiền,” nên phải tu thêm nữa sau mới hiện tiền. Chúng ta thì không có cái gì gọi là hiện tiền cả, chỉ có thể trông thấy một khúc rất nhỏ của pháp giới này thôi, như trông thấy một cái cây, đến khi cái cây ấy đi qua trôi vào quá khứ thì chúng ta lại không trông thấy nó nữa, tức là nó không còn hiện tiền dưới mắt chúng ta nữa. Còn chư Phật và chư Đại Bồ Tát thì các ngài trông thây cái gì cũng hiện tiền cả, từ quá khứ, hiện tại, vị lai, từ vật xa cũng như vật gần, từ cõi này đến cõi khác v.v… Như vậy là các ngài đã hóa giải được không gian và thời gian. Nhưng tại sao các ngài lại hóa giải được? Là vì các ngài đã lặn sâu vào trong cái tàng thức ấy, đến một mức độ viên dung nào đó thì mọi vật đều hiện tiền cả, cũng như tôi vẫn nói có một điểm không hư ở giữa, chung quanh như một trái cầu, chúng ta chỉ nhìn thấy được một khúc bìa mé nào đó của trái cầu thồi mà không đứng được vào giữa của trái cầu ấy, vì vậy, mọi vật đều không hiện tiền, vì vậy mới có quá khứ, hiện tại, vị lai v.v… Hiện tiền tức là hóa giải được không gian và thời gian, muốn hóa giải điều đó thì phải lặn sâu vào tàng thức đứng ở nơi trung tâm không hư, lúc đó mới nhìn thấy được tất cả. Vì vậy, chư Phật biết hết tất cả những quá khứ, hiện tại, vị lai, các ngài lại còn nói rằng, quá khứ đi vòng trở lại, quanh co thành vị lai… Như trong bài kệ ngài Phổ Hiền nói:

Vị lai trong quá khứ, Hiện tại trong vị lai, Tam thế lẫn thấy nhau Biên tế bất khả đắc…

Trở về với kinh, với vị thiện tri thức Thiện Kiến. Sau khi ngài dạy tất cả đều hiện tiền như vậy, ngài mới nói với Thiện Tài rằng, ta được môn “Bồ Tát tùy thuận đăng,” nghĩa là vị Bồ Tát làm một cây đèn sáng tùy thuận chúng sanh để soi sáng. Như vậy, ngài đã tu bố thí rất nhiều kiếp, và trong kiếp này ngài bố thí pháp rất nhiều, tùy theo căn cơ sở thích của chúng sinh mà soi sáng.

Comments

Popular posts from this blog